Luận án tiến sĩ: Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao tại Tập đoàn Dầu khí Việt Nam đến năm 2025

Luận án tiến sĩ phân tích phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao tại tập đoàn dầu khí việt nam đến năm 2025, xây dựng cơ sở lý luận, kiểm chứng thực nghiệm, đóng góp tri thức

Chuyên ngành

Kinh tế học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2017

254
3
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

Trong bối cảnh Việt Nam hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu, phát triển nguồn nhân lực trở thành yếu tố then chốt cho sự phát triển bền vững. Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN) đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế, với nhiệm vụ điều tiết vĩ mô và đóng góp lớn vào ngân sách nhà nước. Tuy nhiên, PVN đang đối mặt với nhiều thách thức như giá dầu giảm, tình hình Biển Đông căng thẳng, và năng suất lao động thấp so với các tập đoàn quốc tế. Việc xây dựng nhân lực chất lượng cao là cần thiết để PVN có thể duy trì và phát triển trong môi trường cạnh tranh khốc liệt. Theo lý thuyết về nguồn lực, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao không chỉ là một chiến lược mà còn là một yêu cầu cấp thiết để nâng cao năng lực cạnh tranh và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.

II. Cơ sở khoa học của phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao

Nghiên cứu về phát triển nguồn nhân lực cho thấy rằng vốn nhân lực là yếu tố quyết định trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Các lý thuyết như của Becker và Lucas nhấn mạnh tầm quan trọng của việc đầu tư vào nhân lực chất lượng cao thông qua giáo dục và đào tạo. Đặc biệt, trong ngành dầu khí, việc phát triển nhân lực chất lượng cao không chỉ giúp tăng cường hiệu suất lao động mà còn tạo ra những giá trị bền vững cho doanh nghiệp. Các chỉ tiêu đánh giá sự phát triển của nguồn nhân lực chất lượng cao cần được xác định rõ ràng để có thể theo dõi và điều chỉnh chiến lược phát triển một cách hiệu quả.

III. Thực trạng phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao tại Tập đoàn Dầu khí Việt Nam

Thực trạng phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao tại PVN cho thấy nhiều hạn chế trong việc thu hút và giữ chân nhân tài. Mặc dù PVN đã có những bước tiến trong việc đào tạo và phát triển nhân lực, nhưng năng suất lao động vẫn còn thấp so với các tập đoàn dầu khí quốc tế. Các yếu tố như môi trường làm việc, chế độ đãi ngộ và cơ hội phát triển nghề nghiệp cần được cải thiện để thu hút nhân tài. Việc xây dựng một chiến lược phát triển nhân lực chất lượng cao là cần thiết để PVN có thể nâng cao hiệu quả hoạt động và cạnh tranh trên thị trường quốc tế.

IV. Đề xuất giải pháp phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đến năm 2025

Để đạt được mục tiêu phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đến năm 2025, PVN cần thực hiện một số giải pháp chiến lược. Đầu tiên, cần xác định rõ mục tiêu và định hướng phát triển, tập trung vào việc nâng cao kỹ năngnăng lực cho đội ngũ nhân viên. Thứ hai, cần đầu tư vào các chương trình đào tạo chuyên sâu, đặc biệt là trong các lĩnh vực công nghệ mới và quản lý. Cuối cùng, việc xây dựng một môi trường làm việc tích cực, khuyến khích sự sáng tạo và đổi mới cũng là yếu tố quan trọng để thu hút và giữ chân nhân tài trong ngành dầu khí.

01/03/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

MỞ ĐẦU VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu Trong bối cảnh Việt Nam hội nhập vào nền kinh tế thế giới, làn sóng đầu tư của các doanh nghiệp nước ngoài vào nước ta như vũ bão làm cho sự cạnh tranh trên tất cả các thị trường trong đó có thị trường lao động ngày càng gay gắt. Việt Nam với việc ký kết hàng loạt các Hiệp định Thương mại tự do (FTA) đã thúc đẩy dòng vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam, cả trực tiếp lẫn gián tiếp, được kỳ vọng sẽ tăng cao. Nhưng các chuyên gia cũng cảnh báo rằng các thách thức phía trước là rất lớn do nội lực nền kinh tế còn yếu.

Các công ty nội địa nếu không có quy mô lớn và công nghệ hiện đại sẽ khó có thể tồn tại. Trong bối cảnh đó, tài nguyên con người có tầm quan trọng đặc biệt đối với sự phát triển của các doanh nghiệp vì những giá trị thuộc về nguồn nhân lực là bền vững và không thể sao chép. Điều này cũng phù hợp với các lý thuyết về nguồn lực dựa trên tầm nhìn của doanh nghiệp (RBV) được phát triển bởi Penrose (1959) và Barney (1991), lý thuyết tập trung vào việc duy trì và phát triển nguồn lực con người để họ trở nên có giá trị, quý hiếm và khó bắt chước, tăng cường hơn nữa lợi thế cạnh tranh của các tổ chức. Phát triển kinh tế dựa chủ yếu vào công nghệ cao và năng suất lao động đã được đưa vào chiến lược phát triển kinh tế xã hội nước ta giai đoạn 10 năm trước đây.

Mới đây, “Báo cáo tổng quan: Việt Nam 2035, hướng tới thịnh vượng, sáng tạo, công bằng và dân chủ” cũng khẳng định lại: tăng trưởng nhanh chỉ có thể được duy trì trên cơ sở tăng nhanh năng suất,… và tạo dựng một nền kinh tế dựa trên sáng tạo và đổi mới công nghệ. Nghị quyết Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ XII cũng nhấn mạnh: tập trung thực hiện các giải pháp nâng cao chất lượng tăng trưởng, năng suất lao động và sức cạnh tranh của nền kinh tế. Tiếp tục thực hiện có hiệu quả ba đột phá chiến lược, trong đó có chiến lược phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao. Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN) được giao trọng trách là trụ cột, mũi nho ̣n, là đầu tàu của nền kinh tế.

Trong các năm vừa qua, PVN đã trở thành công cụ điều tiết vĩ mô của Chính phủ, có đóng góp lớn (từ 25%-30%) tổng thu ngân sách Nhà 2 nước, khai thác hiệu quả tài nguyên Quốc gia, hội nhập kinh tế quốc tế năng động, đầu tư bài bản tạo nguồn lực để thực hiện thành công chiến lược phát triển của ngành Dầu khí Việt Nam, góp phần bảo vệ chủ quyền biển đảo của Tổ quốc và làm tốt công tác an sinh xã hội. Trải qua hơn 40 năm xây dựng và phát triển, PVN đã lớn mạnh và trưởng thành. Từ phạm vi hoạt động ban đầu là tìm kiếm thăm dò khai thác dầu khí tại thềm lục địa Việt Nam, đến nay đã xây dựng và tự chủ vận hành nhà máy lọc hoá dầu, tạo nên ngành công nghiệp dầu khí hoàn chỉnh và đồng bộ, đồng thời tăng cường mở rộng đầu tư sang các lĩnh vực phụ trợ khác như điện, đạm, xây lắp, tài chính, bảo hiểm, kinh doanh xăng dầu. nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh của đất nước.

Và trên thực tế thương hiệu “PetroVietnam” đã được công nhận rộng rãi trên khắp thế giới khi nói đến ngành công nghiệp dầu khí Việt Nam. Tuy nhiên hiện nay, PVN đang phải trực tiếp đối mặt với những khó khăn, thách thức, đó là: giá dầu thô giảm nhanh và giảm sâu, tình hình Biển Đông tiếp tục có những diễn biến căng thẳng ảnh hưởng đến hoạt động tìm kiếm, thăm dò dầu khí; vốn đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực dầu khí giảm, giãn tiến độ; các phát hiện dầu khí mới trong nước chủ yếu là mỏ nhỏ, câ ̣n biên; các mỏ khai thác chủ lực đều trong giai đoạn suy giảm sản lượng; việc tìm kiếm, triển khai các dự án dầu khí tốt ở nước ngoài ngày càng khó khăn, đòi hỏi nguồn vốn lớn bằng ngoại tệ, rủi ro cao và phải cạnh tranh khốc liệt với các công ty dầu khí lớn trên thế giới. Ngoài ra, so với các Tập đoàn khác trong nước thì năng suất lao động của PVN gấp hàng chục, thậm chí hàng trăm lần nhưng khi so sánh với các Tập đoàn Dầu khí thế giới thì năng suất lao động của PVN còn đứng ở vị trí rất thấp (chỉ bằng ¼ năng suất lao động của Petronas). Điều này cho thấy một khoảng cách khá xa trong phát triển đội ngũ nhân lực có chất lượng trong nước và quốc tế.

Thực tế, PVN hoàn toàn có thể tăng trưởng cao hơn nữa, sử dụng hiệu quả hơn nữa tiềm lực tài chính và tận dụng tốt hơn các cơ hội đầu tư để phát triển. Điều đó có nguyên nhân từ trình độ, năng lực và cả phẩm chất của đội ngũ nhân lực còn nhiều khiếm khuyết. Các hạn chế đó phần nào đang được khỏa lấp bởi các lợi thế về tài nguyên và các cơ chế ưu đãi mà PVN đang có được. Tuy nhiên với xu hướng hội nhập như hiện nay, nếu không nhanh chóng xây dựng được NNL CLC, có khả năng làm chủ kỹ thuật và công nghệ mới, PVN chỉ 3 có thể đảm nhận được các phần việc có giá trị thấp, hàm lượng chất xám không cao và hoàn toàn phụ thuộc vào nước ngoài, nhường lại các lợi ích kinh tế cho các nhà thầu quốc tế.

Không chỉ có vậy, cùng với sự phát triển khá mạnh mẽ của dầu khí phi truyền thống (khai thác dầu khí đá phiến, khí than, băng cháy.) dẫn đến những thay đổi trong thiết bị, công nghệ và kỹ thuật thăm dò khai thác. Điều này cũng đòi hỏi các công ty dầu khí, bên cạnh việc đào tạo về các kỹ năng quản lý, kinh tế, tài chính,. còn đặc biệt phải thực hiện một loạt các chương trình đào tạo chuyên môn kỹ thuật cho nhân viên của mình nhằm đáp ứng yêu cầu công việc, tăng hiệu suất lao động thay vì tăng số lượng nhân viên. Tầm nhìn và những suy tính dài hạn có ý nghĩa quan trọng trong tạo dựng kỹ năng, kiến thức chuyên môn, khả năng làm việc và hợp tác của đội ngũ nhân lực CLC tại PVN.

Chiến lược phát triển NNL CLC không phải là những thuật ngữ chung chung trong các doanh nghiệp. Nó phải được cụ thể hoá bằng những hành động như: hiểu và đánh giá cao vai trò của NNL CLC, phải xem NNL CLC là tài sản có giá trị, là nguồn vốn quan trọng nhất của doanh nghiệp, là yếu tố then chốt cần được quan tâm và đầu tư; hiểu và xác định rõ những lao động vừa có năng lực chuyên môn và phẩm chất tốt, có tâm và yêu nghề để thu hút và giữ chân họ ở lại với doanh nghiệp; nhận diện những thuận lợi và khó khăn của đội ngũ nhân lực CLC để kịp thời khuyến khích, động viên và hỗ trợ, phát huy năng lực của họ tạo ra hiệu quả cho doanh nghiệp. Phần lớn trên lý thuyết các doanh nghiệp đều nhận thức được tầm quan trọng của công tác phát triển NNL, tuy nhiên thực tế các chủ doanh nghiệp cung cấp ít hơn mức tối ưu cần thiết cho phát triển NNL vì họ dự đoán rằng các chi phí liên quan tới phát triển NNL có thể vượt quá những lợi ích từ nó. Hiện nay, các nghiên cứu về NNL CLC nhận được nhiều sự quan tâm, tuy vậy, chưa có những nghiên cứu định lượng cụ thể trong việc phát triển đội ngũ nhân lực này.

Ngoài ra, tùy từng ngành kinh tế với những đặc thù, rất cần những nghiên cứu về phát triển NNL CLC riêng biệt gắn với ngành hoặc doanh nghiệp đặc trưng của ngành. Từ thực trạng và yêu cầu phát triển NNL CLC nêu trên, tác giả quyết định chọn đề tài: “Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao tại Tập đoàn Dầu khí Việt Nam đến năm 2025” làm luận án tiến sỹ chuyên ngành kinh tế học. Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan Nghiên cứu về vai trò của nguồn lực con người đối với tăng trưởng kinh tế của các quốc gia Nhà kinh tế học Gary S. Becker (1964) trong “Human Capital: A Theoretical and Empirical Analysis with Special Reference to Education ” - “Vốn con người- Phân tích lý thuyết và kinh nghiệm liên quan đặc biệt đến giáo dục”.

Nghiên cứu về những tác động của đầu tư vào NNL đến việc làm, thu nhập và do đó đến tăng trưởng kinh tế nói chung. Theo ông, vốn con người không chỉ là thể lực vốn có mà còn là giá trị bổ sung của người lao động khi anh ta có được tri thức, kỹ năng và những tài sản hữu ích khác đối với các ông chủ lao động trong quá trình sản xuất và trao đổi. Điểm khác biệt quan trọng giữa thể chất và vốn con người là ở chỗ vốn con người là giá trị phụ trội gắn liền và xuất phát từ chính bản thân người lao động. Do đó, “người lao động có thể trở thành chủ tư bản không phải từ sự phổ biến của quyền sở hữu tập hợp vốn như trong quan hệ tư bản - công nhân mà từ sự thu thập tri thức và kỹ năng có thể đem lại giá trị kinh tế.

Điều đó có nghĩa là, với tri thức và kỹ năng, người lao động có thể đòi hỏi một giá cao hơn cho sức lao động của họ bỏ ra”. Lucas (1988), “On the mechanics of economic development”- “Trên khía cạnh cơ học của sự phát triển kinh tế”, ông xem xét toàn cảnh việc xây dựng một lý thuyết tân cổ điển về sự phát triển và lý thuyết thương mại quốc tế sao cho phù hợp với một vài đặc tính chính của sự phát triển kinh tế. Ba mô hình được xem xét và so sánh: một mô hình nhấn mạnh sự tích lũy vốn vật chất và sự thay đổi công nghệ; một mô hình nhấn mạnh sự tích lũy vốn con người thông qua việc học ở trường và một mô hình nhấn mạnh sự tích lũy VNL chuyên môn hóa thông qua học bằng cách làm. Một số vấn đề được khẳng định: thứ nhất là đào tạo trong công việc hay học bằng cách làm quan trọng tối thiểu như học ở trường trong sự hình thành vốn con người.

Thứ hai, nếu lao động có thể di chuyển, hai vấn đề đặt ra: tác động của vốn con người là tác động nội sinh- chỉ ảnh hưởng đến năng suất lao động của chính người sở hữu VNL hay là ngoại sinh- tràn từ người này sang người khác.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Chiến lược phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao tại Tập đoàn Dầu khí Việt Nam đến 2025" trình bày một kế hoạch chi tiết nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong ngành dầu khí, với mục tiêu đáp ứng nhu cầu phát triển bền vững của Tập đoàn. Các điểm chính bao gồm việc xác định các kỹ năng cần thiết, xây dựng chương trình đào tạo phù hợp và tạo ra môi trường làm việc khuyến khích sự sáng tạo và phát triển cá nhân. Tài liệu này không chỉ mang lại cái nhìn sâu sắc về chiến lược phát triển nguồn nhân lực mà còn giúp các nhà quản lý và chuyên gia trong ngành hiểu rõ hơn về tầm quan trọng của việc đầu tư vào con người.

Để mở rộng thêm kiến thức về phát triển nguồn nhân lực, bạn có thể tham khảo tài liệu Luận văn phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao để hình thành nền kinh tế tri thức ở việt nam, nơi cung cấp cái nhìn tổng quan về vai trò của nguồn nhân lực trong nền kinh tế tri thức. Ngoài ra, tài liệu Luận văn thạc sĩ phát triển năng lực tư duy và lập luận toán cho học sinh thcs cũng có thể giúp bạn hiểu rõ hơn về việc phát triển tư duy và kỹ năng cho thế hệ trẻ, một yếu tố quan trọng trong việc xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao. Cuối cùng, tài liệu Luận văn thạc sĩ phương pháp giảng dạy tiếng anh developing fluency in spoken english of the 10th graders via interviewing technique an action research project at a high school in bac giang province sẽ cung cấp thêm thông tin về các phương pháp giảng dạy hiệu quả, góp phần vào việc nâng cao chất lượng giáo dục và phát triển nguồn nhân lực.