Tổng quan nghiên cứu
Ngành kiểm toán độc lập tại Việt Nam giữ vai trò huyết mạch trong việc bảo đảm tính minh bạch của thông tin tài chính, củng cố niềm tin cho các nhà đầu tư và thúc đẩy sự phát triển lành mạnh của nền kinh tế thị trường. Kể từ khi thành lập hai công ty kiểm toán đầu tiên vào năm 1991 với vỏn vẹn 13 nhân viên, đến năm 2006 toàn ngành đã phát triển lên 105 công ty với 3.897 người lao động. Tổng doanh thu toàn ngành cũng ghi nhận bước đại nhảy vọt từ 144 tỷ đồng năm 1997 lên 622 tỷ đồng vào năm 2005. Tuy nhiên, tỷ trọng đóng góp của ngành vào tổng sản phẩm quốc nội vẫn ở mức rất khiêm tốn, chỉ đạt khoảng 0,06% GDP mỗi năm.
Bối cảnh Việt Nam chuẩn bị gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới và đẩy mạnh cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước đặt ra yêu cầu cấp thiết phải nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp kiểm toán nội địa. Thực tiễn cho thấy thị trường kiểm toán trong nước vẫn phát triển thiếu ổn định, quy mô nhỏ bé và chất lượng dịch vụ chưa đồng đều. Cạnh tranh không lành mạnh bằng hình thức hạ giá phí đã làm tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu của toàn ngành sụt giảm từ 6,4% năm 2004 xuống còn 4,0% vào năm 2005. Mục tiêu trọng tâm của nghiên cứu là hệ thống hóa cơ sở lý luận về quản trị chiến lược, đánh giá thực trạng hoạt động giai đoạn 2002–2005 và nhận diện các yếu tố tác động từ môi trường. Từ đó, nghiên cứu xây dựng các định hướng chiến lược và giải pháp đồng bộ nhằm phát triển bền vững ngành kiểm toán độc lập Việt Nam đến năm 2015.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Nghiên cứu vận dụng lý thuyết quản trị chiến lược của Alfred Chandler và Fred R. David, xác định chiến lược là tiến trình thiết lập các mục tiêu dài hạn, phân tích môi trường bên ngoài cùng nội lực bên trong, từ đó phối hợp tối ưu các nguồn lực để đạt được kết quả mong đợi. Khung phân tích mở rộng dựa trên mô hình năm áp lực cạnh tranh của Michael Porter nhằm đánh giá cường độ cạnh tranh trong nội bộ ngành kiểm toán, năng lực thương lượng của khách hàng, quyền lực của nhà cung ứng nguồn nhân lực, nguy cơ từ đối thủ tiềm ẩn và dịch vụ thay thế.
Bên cạnh đó, nghiên cứu áp dụng các công cụ hoạch định chiến lược kinh điển gồm Ma trận đánh giá các yếu tố bên ngoài, Ma trận đánh giá các yếu tố nội bộ và Ma trận điểm mạnh - điểm yếu - cơ hội - thách thức. Về mặt chuyên ngành, đề tài dựa trên khung lý thuyết kiểm toán của Alvin A. Arens và James K. Loebbecke, phân loại rõ ba nhánh kiểm toán cơ bản là kiểm toán báo cáo tài chính, kiểm toán tuân thủ và kiểm toán hoạt động, đồng thời đối chiếu với hệ thống chuẩn mực kiểm toán quốc tế và Việt Nam.
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng phương pháp duy vật biện chứng kết hợp với phương pháp thống kê mô tả, phân tích tổng hợp, so sánh chỉ số tài chính và phương pháp chuyên gia.
Về cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu, nghiên cứu thực hiện phương pháp chọn mẫu toàn bộ đối với 105 công ty kiểm toán đang hoạt động hợp pháp tại Việt Nam tính đến ngày 31 tháng 07 năm 2006, đồng thời khai thác sâu bộ dữ liệu tài chính của 100 doanh nghiệp kiểm toán trong hai năm tài chính 2004 và 2005 theo số liệu thống kê chính thức từ Bộ Tài chính. Lý do lựa chọn phương pháp phân tích này xuất phát từ đặc thù của ngành kiểm toán độc lập là ngành kinh doanh dịch vụ chuyên nghiệp có điều kiện, chịu sự điều chỉnh trực tiếp từ khung khổ pháp lý và hệ thống chuẩn mực hành nghề. Việc thu thập toàn diện giúp bức tranh phân tích đạt độ chính xác tuyệt đối, tránh sai lệch do chọn mẫu phi xác suất. Khung thời gian nghiên cứu thực nghiệm tập trung vào giai đoạn 2002–2005, cập nhật số liệu đến giữa năm 2006 và đề xuất lộ trình định hướng chiến lược kéo dài đến năm 2015.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Thứ nhất, quy mô doanh thu toàn ngành tăng trưởng nhanh nhưng cơ cấu sản phẩm dịch vụ mất cân đối nghiêm trọng. Tổng doanh thu năm 2005 đạt 622 tỷ đồng, tăng trưởng 34,9% so với mức 461 tỷ đồng của năm 2004. Tuy nhiên, doanh thu kiểm toán báo cáo tài chính chiếm tỷ trọng áp đảo lên tới 57,6% (đạt 358.330 triệu đồng), trong khi các dịch vụ tư vấn mang lại giá trị gia tăng cao như tư vấn tài chính, thuế và kế toán chỉ chiếm 23,6% (đạt 147.288 triệu đồng), dịch vụ tư vấn nguồn nhân lực và quản trị chỉ chiếm 12,0% (đạt 74.456 triệu đồng).
Thứ hai, thị trường bị chi phối mạnh mẽ bởi khối doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài. Doanh thu từ nhóm khách hàng có vốn đầu tư nước ngoài năm 2005 đạt 367.433 triệu đồng, chiếm 59,0% tổng doanh thu toàn ngành. Xét theo loại hình tổ chức kiểm toán, 4 công ty kiểm toán nước ngoài nắm giữ tới 50,0% thị phần doanh thu (đạt 311.139 triệu đồng), trong khi 95 công ty trách nhiệm hữu hạn, cổ phần và hợp danh trong nước chỉ chiếm 28,0% (đạt 174.404 triệu đồng). Mức phí dịch vụ bình quân của khối ngoại đạt 158 triệu đồng cho mỗi khách hàng, cao gấp 4,5 lần so với mức 35 triệu đồng của công ty kiểm toán nhà nước và gấp 6,8 lần mức 23 triệu đồng của khối công ty cổ phần.
Thứ ba, hiệu quả tài chính có xu hướng suy giảm rõ rệt trước áp lực cạnh tranh. Lợi nhuận sau thuế của toàn ngành năm 2005 đạt 24.666 triệu đồng, giảm 16,6% so với mức 29.563 triệu đồng của năm 2004. Tỷ suất sinh lời trên doanh thu sụt từ 6,4% xuống 4,0%, còn tỷ suất lợi nhuận trên vốn giảm mạnh từ 15,5% xuống 11,4%. Nguyên nhân chủ yếu do khối doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài giảm mạnh lợi nhuận khi chi phí tiền lương và đào tạo chiếm tới 70% đến 80% tổng doanh thu.
Thứ tư, chất lượng nguồn nhân lực chưa tương xứng với tốc độ mở rộng số lượng công ty. Trong tổng số 3.061 nhân viên chuyên nghiệp tính đến tháng 05 năm 2006, có tới 2.221 người (chiếm 72,6% lực lượng chuyên môn và 57,0% tổng nhân sự toàn ngành) chưa có chứng chỉ kiểm toán viên. Số lượng nhân sự sở hữu chứng chỉ kiểm toán viên Việt Nam chỉ có 749 người, tạo ra nút thắt lớn cho việc kiểm soát chất lượng kiểm toán.
Thảo luận kết quả
Các số liệu thực nghiệm phản ánh rõ nét thực trạng chuyển giao cơ cấu thị trường. Dữ liệu nghiên cứu được biểu diễn trực quan qua hệ thống biểu đồ tròn về cơ cấu doanh thu theo nhóm khách hàng và biểu đồ cột so sánh mức phí bình quân, làm nổi bật khoảng cách chênh lệch vị thế giữa khối kiểm toán quốc tế và khối kiểm toán nội địa. Biểu đồ đường về tỷ suất sinh lời trên vốn cho thấy độ dốc đi xuống liên tục từ 15,5% xuống 11,4%, cảnh báo hiện tượng cạnh tranh giá tiêu cực giữa các công ty quy mô nhỏ.
Nguyên nhân căn bản là do hành lang pháp lý chưa ổn định; các quy định tại Nghị định 105/2004/NĐ-CP và Nghị định 133/2005/NĐ-CP liên tục thay đổi hình thức tổ chức doanh nghiệp được phép hoạt động khiến các công ty lúng túng. Thói quen sử dụng dịch vụ kiểm toán tại Việt Nam phần lớn vẫn mang tính đối phó theo quy định bắt buộc của Nhà nước thay vì xuất phát từ nhu cầu quản trị nội bộ tự thân. Hơn nữa, việc cơ quan quản lý Nhà nước can thiệp sâu vào hoạt động cấp chứng chỉ và quản lý hành nghề làm hạn chế tính chủ động của Hội Kiểm toán viên hành nghề Việt Nam.
Đề xuất và khuyến nghị
Thứ nhất, hoàn thiện môi trường thể chế pháp lý và đẩy nhanh lộ trình chuyển giao quản lý nghề nghiệp. Bộ Tài chính cần chủ trì soạn thảo và trình Quốc hội ban hành Luật Kiểm toán độc lập trước năm 2011 để tạo khung pháp lý nhất quán, đồng thời hoàn tất chuyển giao 100% chức năng tổ chức thi tuyển, cấp chứng chỉ hành nghề và giám sát chất lượng dịch vụ cho Hội Kiểm toán viên hành nghề Việt Nam theo lộ trình từ năm 2007 đến năm 2008.
Thứ hai, chuẩn hóa và phát triển mạnh mẽ nguồn nhân lực chuyên môn cao. Hội Kiểm toán viên hành nghề Việt Nam phối hợp cùng các trường đại học triển khai chương trình đào tạo kiểm toán viên theo chuẩn mực quốc tế, phấn đấu nâng tổng số kiểm toán viên có chứng chỉ hành nghề lên mức 2.000 người vào năm 2010 và đạt 3.500 người vào năm 2015, từng bước kéo giảm tỷ lệ nhân viên chuyên nghiệp chưa có chứng chỉ xuống dưới mức 40%.
Thứ ba, đa dạng hóa sản phẩm dịch vụ và đầu tư công nghệ kiểm toán hiện đại. Các công ty kiểm toán trong nước cần chủ động tái cấu trúc danh mục kinh doanh, ứng dụng phần mềm kiểm toán tiên tiến, nâng tỷ trọng doanh thu từ các mảng dịch vụ tư vấn tài chính, quản trị rủi ro và định giá tài sản từ mức 23,6% hiện tại lên mức 35% đến 40% tổng doanh thu trong giai đoạn 2010–2015.
Thứ tư, gia tăng quy mô tài chính và thúc đẩy liên doanh, liên kết quốc tế. Khuyến khích các công ty kiểm toán quy mô nhỏ sáp nhập nhằm nâng vốn điều lệ bình quân từ mức 2 tỷ đồng hiện nay lên tối thiểu 5 đến 10 tỷ đồng vào năm 2012, đồng thời tích cực tham gia làm thành viên của các mạng lưới kiểm toán quốc tế để nâng thị phần cung cấp dịch vụ cho các dự án quốc tế và công ty niêm yết lên trên 45%.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
Cơ quan quản lý nhà nước như Bộ Tài chính và Ủy ban Chứng khoán Nhà nước có thể sử dụng các phân tích ma trận để làm cơ sở khoa học cho việc hoạch định chính sách vĩ mô, xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật và thiết lập cơ chế kiểm soát chất lượng kiểm toán toàn diện.
Ban lãnh đạo các công ty kiểm toán độc lập trong nước có thể khai thác mô hình ma trận điểm mạnh - điểm yếu - cơ hội - thách thức để nhận diện vị thế cạnh tranh, xây dựng chiến lược định giá phí hợp lý, nâng cao năng lực tài chính và định hình lộ trình chuyển đổi mô hình kinh doanh phù hợp với xu thế mở cửa thị trường.
Hội Kiểm toán viên hành nghề Việt Nam có thể tham khảo dữ liệu về cơ cấu nhân sự với hơn 57,0% lao động chưa có chứng chỉ để thiết kế các chương trình cập nhật kiến thức thường niên, chuẩn hóa kỳ thi sát hạch kiểm toán viên tương thích với thông lệ quốc tế.
Các nhà nghiên cứu, giảng viên và học viên cao học thuộc chuyên ngành Kế toán, Kiểm toán và Quản trị kinh doanh có thể sử dụng công trình này làm tài liệu tham khảo giá trị về phương pháp luận ứng dụng các công cụ quản trị chiến lược vào ngành dịch vụ chuyên nghiệp mang tính đặc thù cao.
Câu hỏi thường gặp
Nguyên nhân nào dẫn đến sự chênh lệch lớn về mức phí dịch vụ giữa công ty kiểm toán nước ngoài và công ty trong nước?
Sự chênh lệch bắt nguồn từ uy tín thương hiệu quốc tế và bề dày kinh nghiệm. Năm 2005, mức phí bình quân của khối công ty kiểm toán nước ngoài đạt 158 triệu đồng cho mỗi khách hàng, cao vượt trội so với mức 35 triệu đồng của công ty nhà nước và 23 triệu đồng của công ty cổ phần nhờ năng lực cung cấp dịch vụ phức tạp cho các tập đoàn đa quốc gia.
Tại sao doanh thu ngành kiểm toán độc lập lại tăng trưởng đột biến trong giai đoạn 2004–2005?
Sự bứt phá doanh thu từ 461 tỷ đồng năm 2004 lên 622 tỷ đồng năm 2005, tương ứng mức tăng 34,9%, xuất phát chủ yếu từ việc Nhà nước ban hành quy định bắt buộc kiểm toán báo cáo tài chính đối với toàn bộ doanh nghiệp nhà nước và các dự án đầu tư nhóm A theo khuôn khổ Nghị định 105/2004/NĐ-CP.
Thực trạng nguồn nhân lực kiểm toán độc lập tại thời điểm nghiên cứu gặp phải điểm nghẽn gì lớn nhất?
Điểm nghẽn lớn nhất là sự thiếu hụt nghiêm trọng kiểm toán viên có chứng chỉ hành nghề. Trong tổng số 3.897 nhân sự toàn ngành, có tới 2.221 nhân viên chuyên nghiệp (chiếm 57,0%) chưa có chứng chỉ kiểm toán viên, trong khi lực lượng có chứng chỉ chỉ vỏn vẹn 749 người.
Các công cụ phân tích chiến lược nào đã được ứng dụng trong nghiên cứu này?
Nghiên cứu áp dụng đồng bộ ba công cụ quản trị chiến lược căn bản gồm Ma trận đánh giá các yếu tố bên ngoài để lượng hóa cơ hội và thách thức, Ma trận đánh giá các yếu tố nội bộ để phân tích năng lực nội tại và Ma trận điểm mạnh - điểm yếu - cơ hội - thách thức để thiết lập các nhóm chiến lược hành động.
Vì sao tỷ suất lợi nhuận trên vốn của ngành kiểm toán sụt giảm từ 15,5% xuống 11,4% vào năm 2005?
Sự gia tăng nhanh chóng của 95 công ty kiểm toán quy mô nhỏ chiếm 90,5% số lượng đơn vị toàn ngành đã làm bùng nổ cuộc chiến hạ giá phí, trong khi chi phí tiền lương và đào tạo tại các công ty lớn chiếm từ 70% đến 80% doanh thu, kéo theo tổng lợi nhuận sau thuế toàn ngành giảm 16,6%.
Kết luận
- Luận văn đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về quản trị chiến lược và tổng kết sâu sắc 15 năm hình thành, phát triển của ngành kiểm toán độc lập Việt Nam giai đoạn 1991–2006.
- Phân tích chi tiết thực trạng tài chính giai đoạn 2004–2005 với doanh thu đạt mốc 622 tỷ đồng, đồng thời chỉ rõ sự mất cân đối khi dịch vụ kiểm toán báo cáo tài chính chiếm tới 57,6% tổng doanh thu.
- Ứng dụng thành công hệ thống ma trận lượng hóa các yếu tố môi trường bên ngoài và nội bộ, tạo lập cơ sở khách quan cho việc hoạch định chiến lược ngành.
- Xác định rõ tầm nhìn và mục tiêu chiến lược phát triển ngành đến năm 2015 nhằm thích ứng với tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế và gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới.
- Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp đột phá về hoàn thiện thể chế, chuẩn hóa nhân lực, nâng cao chất lượng dịch vụ và tăng cường năng lực tài chính.
Về lộ trình tiếp theo, giai đoạn 2007–2010 cần ưu tiên hoàn thiện hành lang pháp lý và chuyển giao quyền lực quản lý cho tổ chức nghề nghiệp, hướng tới giai đoạn 2011–2015 hội nhập hoàn toàn thị trường kiểm toán khu vực. Luận văn là tài liệu tham khảo then chốt giúp các nhà quản lý và doanh nghiệp kiểm toán định hình bước đi vững chắc trong giai đoạn phát triển mới.