CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN KHU VỰC NGHIÊN CỨU 1. TỔNG QUAN TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU 1.1 Sơ lược lịch sử tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu Năm 1658, chúa Hiền Nguyễn Phúc Tần đưa 2.000 quân đánh thành Mô Xoài của Chân Lạp (thuộc vùng đất Bà Rịa ngày nay). Lý do của cuộc chinh phạt này được Chúa Nguyễn đưa ra là để bảo vệ những cư dân người Việt đã vào đây làm ăn sinh sống. Trận này, Chúa Nguyễn bắt được vua Chân Lạp là Nặc Ông Chân.
Chân Lạp xin được làm chư hầu và triều cống hàng năm. Năm Giáp Tuất, Thái Tông thứ 27 (1674), Chúa Hiền lại sai Nguyễn Dương Lâm và Nguyễn Diên đem quân đánh lũy Bô Tâm của Chân Lạp ở xứ Mô Xoài mà về sau người Việt gọi là Lũy cũ Phước Tứ (vùng thị trấn Long Điền ngày nay). Tỉnh Bà Rịa được thành lập tháng 12 năm 1899 trên địa bàn phủ Phước Tuy của tỉnh Biên Hòa. Tháng 10 năm 1956, chính quyền Việt Nam Cộng Hòa lập tỉnh Phước Tuy gồm địa bàn tỉnh Bà Rịa và quần đảo Hoàng Sa.
Từ tháng 3 năm 1963 đến tháng 12 năm 1963 và từ tháng 11 năm 1966 đến tháng 10 năm 1967, chính quyền Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam sáp nhập tỉnh Bà Rịa với tỉnh Biên Hòa và tỉnh Long Khánh thành tỉnh Bà Biên. Từ tháng 2 năm 1976 sáp nhập vào tỉnh Đồng Nai. Từ tháng 5 năm 1979 lập Đặc khu Vũng Tàu-Côn Đảo. Tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu trải qua các thời kỳ lịch sử với nhiều địa danh nổi tiếng và tên gọi khác nhau từ Tam Thắng, Vũng Tàu đến Bà Rịa, Phước Tuy, Đặc khu Vũng Tàu - Côn Đảo và ngày 12-8-1991 chính thức được mang tên Bà Rịa - Vũng Tàu.
10 Hoạch định chiến lược phát triển bốn ngành kinh tế biển tỉnh BR –VT đến năm 2015 1. Đặc điểm tự nhiên 1. Đặc điểm phần đất liền Vị trí địa lý: Bà Rịa – Vũng Tàu là một tỉnh ven biển thuộc miền Đông Nam Bộ với diện tích hẹp (1967 km2 ) và được giới hạn trong khung tọa độ từ 100 19’17’’ - 100 48’17’’ vĩ độ Bắc, 1070 00’00’’ – 1070 34’25’’ kinh độ Đông (Thuộc tờ bản đồ UTM tỷ lệ 1/50.000 6429-I, 6429-IV, 6430-I, 6430-II, 6430-III, 6430-IV, 6530-III). Tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu giáp với tỉnh Đồng Nai (ở phía Bắc và phía Tây, Tây Bắc), Bình Thuận (ở phía Đông), biển Đông (ở phía Nam, Tây và Tây Nam) và thành phố Hồ Chí Minh (ở phía Tây).
Bà Rịa - Vũng Tàu có diện tích tự nhiên 1975,15km2 với tổng chiều dài địa giới là 162 km, tổng chiều dài bờ biển là 305,4 km (gồm bờ biển và quần đảo Côn Sơn - Côn Đảo) với trên 100.000 km2 thềm lục địa. Lãnh thổ của tỉnh gồm hai phần: đất liền và hải đảo. Bà Rịa - Vũng Tàu nằm trên trục đường xuyên Á, có hệ thống cảng biển, sân bay và mạng lưới đường sông, đường biển thuận lợi. Các đường quốc 51, 55, 56 cùng với hệ thống đường tỉnh lộ, huyện lộ là những mạch máu chính gắn kết quan hệ toàn diện của Bà Rịa - Vũng Tàu với các tỉnh khác trong cả nước và quốc tế.
Địa hình: Trên diện tích gặp 4 dạng địa hình chính với các đặc trưng như sau: Địa hình dạng cao nguyên: Gồm phần Bắc và Đông Bắc huyện Châu Thành với độ cao 70-250 m. Bề mặt có dạng vòm và rải rác nổi lên trên các họng núi lửa dạng chóp. Bề mặt cao nguyên được cấu thành bởi các thành tạo bazan phong hóa (đất đỏ) dày 3-5m (ở rìa vòm) tới 25-30 m (ở trung tâm vòm) và bị phân cắt yếu bởi mạng sông suối dạng tỏa tia. Đồng bằng xâm thực tích tụ cổ: Gặp ở Hắc Dịch (Bắc Bà Rịa).
Bề mặt địa hình nhấp nhô dạng đồi thấp, thoải với độ cao theo bậc từ 5-10 m. 11 Hoạch định chiến lược phát triển bốn ngành kinh tế biển tỉnh BR –VT đến năm 2015 Đồng bằng cửa sông ven biển: Địa hình này gặp ở phía Tây và phía Nam tỉnh. Địa hình bị phân cắt mạnh bởi mạng kênh rạch chằng chịt. Độ cao địa hình từ 1-2 m.
Núi sót: Trên địa bàn tỉnh gặp rải rác các núi sót độc lập hoặc dạng dải với độ cao 200-500 m: núi Dinh, núi Thị Vải, núi Ông Câu, núi Lớn, núi Nhỏ, núi Nứa, núi Đá Dựng, núi Hòn Thùng. Một số núi là nguồn cung cấp đá xây dựng và tạo vẻ đẹp cho cảnh quan thiên nhiên. Hình 1: BẢN ĐỒ HÀNH CHÍNH TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU (Nguồn Sở Kế hoạch Đầu tư, năm 2006) Khí hậu: Bà Rịa - Vũng Tàu nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, chịu ảnh hưởng của đại dương. Nhiệt độ trung bình khoảng 270C; sự thay đổi nhiệt độ của các tháng 12 Hoạch định chiến lược phát triển bốn ngành kinh tế biển tỉnh BR –VT đến năm 2015 trong năm không lớn.
Số giờ nắng trong năm dao động trong khoảng 2.850 giờ và phân phối đều các tháng trong năm. Lượng mưa trung bình hàng năm thấp (khoảng 1.600 mm) và phân bố không đều theo thời gian, tạo thành hai mùa rõ rệt: mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11, chiếm 90% lượng mưa cả năm; và 10% tổng lượng mưa tập trung vào mùa khô là các tháng còn lại trong năm. Khí hậu Bà Rịa - Vũng Tàu nhìn chung mát mẻ, rất phù hợp với du lịch, thuận lợi cho phát triển các loại cây công nghiệp dài ngày (như tiêu, điều, cao su, cà phê) và cho phát triển một nền lâm nghiệp đa dạng. Mạng lưới sông suối: Tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu có mạng sông suối và kênh rạch khá dày nhưng phân bố không đều và chủ yếu là nhỏ nên ít có ý nghĩa giao thông đường thủy.
Sông Thị Vải: Đây là sông có ý nghĩa giao thông đường thủy quan trọng nhất của tỉnh, mặc dù chảy dọc ranh giới không dìa lắm. Sông rộng trung bình 0,4 km, cửa sông rộng 1km và sâu trung bình 12 m. Sông chảy theo hướng chính Bắc – Nam. Hệ thống sông Dinh: Sông xuất phát từ khu Cẩm Mỹ, núi Đất, núi Nghệ và chảy theo hướng chính Bắc – Nam.
Từ cầu Cỏ May sông chia thành 2 nhánh: Bà Côi và sông Cỏ May. Phần gần các cửa sông Dinh và Thị Vải phát triển nhiều kênh rạch, bãi lầy và chịu ảnh hưởng của chế độ bán nhật triều mạnh mẽ. Sông Ray: Xuất phát từ vùng núi Chưa Chan chảy qua vùng Xuân Lộc (Đồng Nai) theo hướng Bắc – Nam và qua vùng Bà Rịa – Vũng Tàu ở phần trung tâm. Lòng sông hẹp, ít nước nhưng là nguồn nước quan trọng trong sản xuất nông-lâm nghiệp của tỉnh.
13 Hoạch định chiến lược phát triển bốn ngành kinh tế biển tỉnh BR –VT đến năm 2015 Sông Hóa: Xuất phát từ khu vực xã Thừa Tích và chảy qua Xuyên Mộc theo hướng Tây Bắc – Đông Nam rồi chảy ra biển theo hướng Đông Bắc – Tây Nam. Sông ngắn, hẹp, ít nước. Hệ thống sông Bà Đắp: Đây cũng là một sông nhỏ xuất phát từ khu vực núi Đất chảy qua xã An Nhất theo hướng Bắc – Nam, chảy về xã Long Mỹ theo hướng Tây Bắc – Đông Nam và đổ ra biển theo hướng Đông – Tây. Hệ thống sông Băng Chúa: thuộc phần phía Đông tỉnh (giáp Bình Thuận).
Suối nước nóng Bình Châu cũng chảy vào sông này. Tóm lại, sông suối tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu nhỏ, ngắn, ít nước và phụ thuộc vào mùa mưa. Các suối cấp 1, 2 vào mùa khô thường cạn kiệt. Tuy vậy, nước sông suối là nguồn cung cấp chính để sản xuất nông nghiệp và dự trữ trong các công trình thủy lợi.
Ngoài hệ thống sông, còn có vịnh Gành Rái có vai trò hết sức quan trọng. Phía Đông vịnh giáp Vũng Tàu, phía Tây giáp huyện Cần giờ thuộc Hồ Chí Minh, phía Bắc giáp đảo Long Sơn. Vịnh có độ sâu biến đổi từ vài mét đến 32 mét. Trên vách bờ của vịnh có 3 sông lớn đổ vào.
Đặc điểm vùng biển và hải đảo Diện tích: Khoảng 100.000 km2 Ranh giới: Biển Bà Rịa– Vũng Tàu thuộc vùng biển phía Đông Nam Bộ, điểm nước được tính từ ranh giới giữa huyện Xuyên Mộc và huyện Hàm Tân (tỉnh Bình Thuận) đến Hòn Trứng Nhỏ (hòn đảo xa nhất của huyện Côn Đảo). Bờ biển Bà Rịa – Vũng Tàu nằm ở đoạn đầu của vùng biển Nam Bộ, tiếp giáp với bờ biển Trung Bộ, khởi đầu của một vùng bờ biển mới với cấu trúc địa chất khác biệt. Ở cách thành phố Vũng Tàu gần 170 km là quần đảo Côn Lôn gồm 16 hòn lớn nhỏ. Đảo chính là Côn Lôn Lớn có diện tích 58 km2 và một số đảo khác.
Đường bờ biển Côn Đảo khúc khuỷu và khá phức tạp. 14 Hoạch định chiến lược phát triển bốn ngành kinh tế biển tỉnh BR –VT đến năm 2015 Địa hình đáy biển của Bà Rịa – Vũng Tàu có độ dốc tương đối lớn. Trầm tích đáy chủ yếu là cát mịn. Về phía Tây Bắc Côn Đảo, đáy biển có các hố trũng sâu, các hồ này có liên quan đến các khe nứt kiến tạo do các núi lửa cổ và được mài mòn theo thời gian bởi các dòng chảy qua eo biển.
Biển Bà Rịa – Vũng Tàu nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gó mùa, chịu ảnh hưởng của khí tượng thủy văn đại dương, hơi thiên về khí hậu xích đạo. Nhiệt độ: Nhiệt độ nước biển biến đổi theo mùa và theo độ sâu của nước. Nhiệt độ trung bình tầng nước mặt dao động từ 240C đến 270C. Vào mùa gió tây nam, ở vùng ven bờ nhiệt độ thấp hơn ngoài khơi khoảng từ 20C – 40C; vào mùa thời kì gió mùa đông bắc thì có hiện tượng ngược lại.
Chế độ gió: Chế độ gió ở đây chia là hai mùa rõ rệt, đó là gió mùa Đông Bắc và gió mùa Tây Nam. Mùa gió Đông Bắc có tần suất xuất hiện lớn từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau. Mùa gió Tây Nam có tuần suất xuất hiện lớn từ tháng 6 đến tháng 10. Chế độ sóng: Vùng biển Bà Rịa – Vũng Tàu có chế độ sóng liên quan trực tiếp đến chế độ gió mùa.
Mùa sóng hướng Đông Bắc và mùa sóng hướng Tây Nam. Mùa sóng hướng Đông Bắc có tần suất xuất hiện lớn vào tháng 11 năm trước đến tháng 1 năm sau, vùng ven bờ sóng có hướng Bắc chiếm ưu thế với tần suất khoảng 60%, ở vùng biển thoáng sóng thịnh hành theo hướng Đông Bắc chiếm tần suất 92%. Mùa sóng hướng Tây Nam có tần suất xuất hiện cực đại vào tháng 8 và tháng 9, sóng có hướng Tây Nam chiếm tần suất khoảng 62%. Chế độ dòng chảy: Vùng biển Bà Rịa – Vũng Tàu chịu sự chi phối mạnh của dòng triều và trường gió mùa.