Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển kinh tế biển Chương 2: Thực trạng phát triển kinh tế biển ở Thừa Thiên Huế Chương 3: Định hướng và giải pháp chủ yếu nhằm phát triển kinh tế biển ở tỉnh Thừa Thiên Huế 6 CHƯƠNG1 CƠSỞLÝLUẬNVÀTHỰCTIỄNVỀPHÁTTRIỂNKINHTẾBIỂN 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ KINH TẾ BIỂN VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ BIỂN 1. Khái niệm kinh tế biển và phát triển kinh tế biển 1. Khái niệm kinh tế biển Thế kỷ 21 được xem là “Thế kỷ của biển và đại dương”.
Trong điều kiện các nguồn tài nguyên trên đất liền đang ngày bị cạn kiệt, không gian kinh tế truyền thống đã trở nên không còn phù hợp nữa. Nhiều quốc gia có biển bắt đầu có chiến lược hướng ra biển và định hình các phương án thăm dò biển, khai thác các nguồn lợi từ biển và hải đảo và phát triển kinh tế biển. Vậy kinh tế biển là gì? Kinh tế biển là một bộ phận có vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế chung của xã hội loài người. Vì thế, hiểu và định nghĩa cụ thể kinh tế biển là một việc làm rất có ý nghĩa.
Hiện nay, chưa có một định nghĩa toàn vẹn về kinh tế biển, nhưng có thể hiểu kinh tế biển là toàn bộ hoạt động kinh tế liên quan đến biển, và có thể chia ra 2 nhóm chính: - Nhóm thứ nhất, kinh tế biển bao gồm toàn bộ những hoạt động kinh tế diễn ra trên biển, như: kinh tế hàng hải (vận tải biển, khai thác cảng biển và dịch vụ liên quan); hải sản (đánh bắt, nuôi trồng, khai thác cảng cá); khai thác dầu khí trên biển; du lịch biển; nghề muối biển; dịch vụ tìm kiếm cứu hộ, cứu nạn trên biển; kinh tế hải đảo. - Nhóm thứ hai, kinh tế biển là những hoạt động kinh tế trực tiếp liên quan đến khai thác, có thể không diễn ra ngay trên biển, nhưng dựa vào yếu tố biển và diễn ra từ đất liền, như: đóng và sửa chữa tàu biển (có nước xếp vào kinh tế hàng hải); công nghiệp chế biến dầu khí; công nghiệp chế biến hải sản; cung cấp dịch vụ biển (khí tượng thủy văn, và một số lĩnh vực khác….); thông tin liên lạc biển (đài phát tín hiệu ven biển, hệ thống định vị); nghiên cứu khoa học - công nghệ biển; điều tra cơ bản về tài nguyên và môi trường biển; đào tạo nguồn nhân lực phục vụ phát triển 7 kinh tế biển; bảo vệ môi trường, sinh thái biển. Từ những quan niệm trên, có thể hiểu kinh tế biển như sau: Kinh tế biển là toàn bộ các hoạt động kinh tế được diễn ra trên biển và đất liền có liên quan trực tiếp đến hoạt động khai thác, sản xuất kinh doanh các nguồn lợi kinh tế từ biển. Khái niệm phát triển kinh tế biển Phát triển kinh tế biển là quá trình tăng trưởng và tiển bộ mọi mặt của hoạt động kinh tế diễn ra trên biển và đất liền có liên quan trực tiếp đến hoạt động khai thác, sản xuất kinh doanh các nguồn lợi từ biển.
Như vậy, phát triển kinh tế biển bao gồm sự tăng trưởng về quy mô sản lượng của các ngành nghề, lĩnh vực liên quan đến kinh tế biển và sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế đúng hướng cùng với sự tiến bộ và công bằng xã hội ở vùng kinh tế biển. Phát triển kinh tế biển là nhu cầu khách quan có tính quy luật, vận động từ trình độ thấp đến trình độ cao. Sự phát triển của kinh tế biển có tác động to lớn góp phần làm thay đổi tốc độ tăng trưởng kinh tế nói riêng và phát triển cơ sở hạ tầng, tiến bộ và công bằng xã hội nói chung. Các ngành nghề, lĩnh vực liên quan đến kinh tế biển Theo Tổ chức Hợp tác khu vực trong quản lý môi trường các biển Đông Á (PEMSEA), kinh tế biển về cơ bản bao gồm: - Thương mại theo đường biển (maritime trade): là hoạt động trao đổi buôn bán hàng hóa vận chuyển bằng đường biển giữa các quốc gia trong cùng khu vực hoặc giữa các châu lục, thể hiện qua giá trị hoặc khối lượng hàng hóa được luân chuyển trong một năm.
Thương mại đường biển giúp thúc đẩy đầu tư sản xuất và phát triển dịch vụ của các quốc gia thông qua việc thực hiện giá trị của hàng hóa trong trao đổi. Nhờ đó, giúp một nước hội nhập vào kinh tế toàn cầu, đa dạng hóa sản phẩm dịch vụ của mình để đáp ứng tốt nhất nhu cầu trao đổi giữa các nước và giữa các khu vực. - Hệ thống các khu kinh tế, khu công nghiệp và các cảng biển: Đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp hạ tầng cơ sở vật chất , kỹ thuật thúc đẩy các hoạt động kinh tế biển như đóng tàu; cung ứng phương tiện vật tư, kỹ thuật phục vụ cho khai thác, đánh bắt hải sản; phục vụ khai thác tiềm năng du lịch, vận tải biển; và là 8 nơi chung chuyển, chế biến các sản phẩm được khai thức từ biển. - Vận tải biển: Gắn liền với hoạt động thương mại đường biển, giúp nhanh chóng vận chuyển hàng hóa giữa các nước, đem lại nguồn thu từ cước phí vận tải - Công nghiệp đóng và sửa chữa tàu biển: Sản xuất và sửa chữa phương tiện vậ chuyển bằng đường biển.
- Khai thác đánh bắt thủy sản phục vụ nhu cầu thực phẩm trong nước và chế biến xuất khẩu. - Khai thác dầu và khí đốt trong thềm lục địa để đảm bảo an ninh năng lượng và cho chế biến xuất khẩu. - Du lịch biển và dịch vụ nghỉ dưỡng: Du lịch biển là hoạt động du lịch được tổ chức phát triển trên lãnh thổ vùng ven biển và vùng biển ven bờ (bao gồm cả các đảo ven bờ) và vì vậy hoạt động phát triển du lịch biển chủ yếu dựa vào đặc điểm tự nhiên và tiềm năng du lịch của lãnh thổ địa lý này. - Các hoạt động phụ trợ khác: như hậu cần, giao nhận vận tải, bảo hiểm, đánh giá kiểm định chất lượng tàu biển, tiếp nhiên liệu tại cảng, đào tạo đội ngũ thủy thủ, ngân hàng… Trong những năm qua, các lĩnh vực kinh tế biển nước ta đã có bước chuyển biến đáng kể.
Cơ cấu ngành nghề đang có sự thay đổi lớn. Ngoài các ngành nghề truyền thống, đã xuất hiện nhiều ngành kinh tế biển gắn với công nghệ-kỹ thuật hiện đại. Trong chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020, Đảng ta xác định cần phát triển một số ngành kinh tế chủ yếu sau: (1) Khai thác và chế biến dầu khí; (2) Kinh tế hàng hải; (3) Khai thác và chế biến hải sản; (4) Du lịch biển và kinh tế hải đảo; (5) Các khu kinh tế; Khu công nghiệp chế xuất ven biển gắn với phát triển các khu đô thị ven biển. Những nhân tố ảnh hưởng đến phát triển kinh tế biển 1.
Nhóm nhân tố liên quan đến các nguồn lực phát triển kinh tế biển - Tài nguyên của biển và vùng ven biển Hiện nay, tài nguyên thiên nhiên không chỉ hiểu theo tư duy truyền thống, là những dạng vật chất lấy ra được và có giá trị sử dụng cho mục tiêu kinh tế nào đó, mà đã được hiểu là tất cả các yếu tố tự nhiên có thể sử dụng ở các hình thức khác 9 nhau, hoặc không sử dụng nhưng sự tồn tại của tự nó mang lại lợi ích cho con người. Vị thế hoặc tài nguyên vị thế gần đây được nói đến khá nhiều và được đánh giá là rất quan trọng, nhưng cơ sở khoa học của nó vẫn là vấn đề còn mới mẻ đối với nước ta. Đó là những tiềm năng và giá trị về vị trí địa lý và các thuộc tính không gian liên quan đến cấu trúc, hình thể sơn văn và cảnh quan sinh thái có thể sử dụng cho các mục đích phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo an ninh, quốc phòng và chủ quyền quốc gia.Việt Nam có vị thế đặc biệt quan trọng ở Đông Nam Á nhờ có một vùng lãnh thổ trải dài trên ba nghìn km ở rìa tây Biển Đông và một vùng lãnh hải rộng trên một triệu km2, gấp ba lần diện tích lãnh thổ. Biển Việt Nam nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa, giữ vai trò quan trọng về môi trường, sinh thái trong Biển Đông, là vùng chuyển tiếp đặc biệt giữa Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương về mặt địa lý sinh vật và hàng hải.
Quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước hiện nay và nhất là sự phát triển của nền kinh tế thị trường dựa trên nền tảng của lĩnh vực dịch vụ sau này đòi hỏi phải phát huy được tiềm năng to lớn của tài nguyên vị thế biển. Có thể chia tài nguyên biển thành bốn loại như sau: + Tài nguyên sinh vật Biển Đông có nguồn tài nguyên sinh vật phong phú và đa dạng, có đến hơn 160.000 loài thực vật và 260 loài chim sống ở biển. Trữ lượng các loài động vật ở biển ước tính khoảng 32,5 tỷ tấn, trong đó, các loài cá chiếm 86% tổng trữ lượng.Vùng biển Việt Nam có hơn 2.458 loài cá, gồm nhiều bộ, họ khác nhau, trong đó có khoảng 110 loài có giá trị kinh tế cao. Trữ lượng cá ở vùng biển nước ta khoảng 5 triệu tấn/năm, trữ lượng cá có thể đánh bắt hàng năm khoảng 2,3 triệu tấn.
Các loài động vật thân mềm ở Biển Đông có hơn 1.800 loài, trong đó có nhiều loài là thực phẩm được ưa thích, như: mực, hải sâm ,.Chim biển: Các loài chim biển ở nước ta vô cùng phong phú, gồm: hải âu, bồ nông, chim rẽ, hải yến,.Ngoài động vật, biển còn cung cấp cho con người nhiều loại rong biển có giá trị. Đây là nguồn thực phẩm giàu dinh dưỡng và là nguồn dược liệu phong phú. Biển nước ta có khoảng 638 loài rong biển. Các loại rong biển dễ gây trồng, ít bị mất mùa và cho năng suất thu hoạch cao nên sẽ là nguồn thực phẩm quan trọng của loài người trong tương lai.
10 + Tài nguyên phi sinh vật Dầu khí là tài nguyên lớn nhất ở thềm lục địa nước ta, có tầm chiến lược quan trọng. Đến nay, chúng ta đã xác định được tổng tiềm năng dầu khí tại bể trầm tích: Sông Hồng, Phú Khánh, Nam Côn Sơn, Cửu Long, Malay - Thổ Chu, Tư Chính - Vũng Mây. Trữ lượng dầu khí dự báo của toàn thềm lục địa Việt Nam khoảng 10 tỷ tấn quy dầu. Ngoài dầu, Việt Nam còn có khí đốt với trữ lượng khai thác khoảng 3.
Trữ lượng đã được xác minh là gần 550 triệu tấn dầu và trên 610 tỷ m3 khí. Trữ lượng khí đã được thẩm lượng, đang được khai thác và sẵn sàng để phát triển trong thời gian tới vào khoảng 400 tỷ m3.