phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục, Luận văn đƣợc chia thành 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về chính sách phát triển hệ thống giao thông tĩnh; Chƣơng 2: Thực trạng chính sách phát triển hệ thống giao thông tĩnh trên địa bàn thành phố Hà Nội; Chƣơng 3: Quan điểm, định hƣớng và giải pháp hoàn thiện chính sách phát triển hệ thống giao thông tĩnh trên địa bàn thành phố Hà Nội. 8 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG GIAO THÔNG TĨNH 1. Khái niệm hệ thống giao thông tĩnh 1. Khái niệm giao thông và phân loại hệ thống giao thông 1.
Khái niệm Giao thông là các công trình, các con đƣờng giao thông và các phƣơng tiện khác nhau đảm bảo sự liên hệ giữa các khu vực với nhau. Hệ thống giao thông là tập hợp các công trình, các con đƣờng và các cơ sở hạ tầng khác để phục vụ cho việc di chuyển hàng hoá và hành khách trong thành phố đƣợc thuận tiện, thông suốt, nhanh chóng, an toàn và đạt hiệu quả cao. Phân loại hệ thống giao thông Hệ thống giao thông bao gồm hai hệ thống con đó là hệ thống giao thông và hệ thống vận tải. Các thành phần của hệ thống giao thông bao gồm: - Hệ thống giao thông động: Là bộ phận của hệ thống giao thông có chức năng đảm bảo cho phƣơng tiện và ngƣời di chuyển đƣợc thuận tiện giữa các khu vực.
Đó là mạng lƣới đƣờng xá cùng nút giao thông, cầu vƣợt. GIAO THÔNG Hệ thống giao Hệ thống vận tải thông Hệ Hệ Vận tải Vận tải Vận tải thống thống hành hàng hoá chuyên GT GT khách dùng động tĩnh Công Cá cộng nhân Hình 1. Sơ đồ mô phỏng hệ thống giao thông 9 - Hệ thống giao thông tĩnh: Là bộ phận của hệ thống giao thông phục vụ phƣơng tiện trong thời gian không hoạt động và hành khách tại các điểm đỗ đón trả khách và xếp dỡ hàng hoá. Đó là hệ thống các điểm đỗ, điểm dừng, các terminal, depot, bến xe,.
- Hệ thống vận tải: Là tập hợp các phƣơng thức vận tải và phƣơng tiện vận tải khác nhau để vận chuyển hàng hoá và hành khách trong thành phố. - Các mối quan hệ giữa phƣơng tiện, giao thông động và tĩnh: Gara Kết thúc Các điểm dừng chuyến đi Giao thông Giao thông tĩnh động Hình 1. Mối quan hệ giữa phương tiện, giao thông động và tĩnh 1. Giao thông tĩnh 1.
Khái niệm giao thông tĩnh - Hệ thống giao thông tĩnh: Là bộ phận của hệ thống giao thông phục vụ phƣơng tiện trong thời gian không hoạt động và hành khách tại các điểm đỗ đón trả khách và xếp dỡ hàng hoá. Đó là hệ thống các điểm đỗ, điểm dừng, các terminal, depot, bến xe,. Quá trình hoạt động của phƣơng tiện gồm hai trạng thái: Trạng thái di chuyển và trạng thái đứng im tƣơng đối. Hai trạng thái này liên hệ mật thiết với nhau, tuy nhiên chúng có những đặc điểm khác nhau về công nghệ, kỹ thuật, 10 môi trƣờng.
Do đó, cần xem xét hệ thông giao thông và phƣơng tiện vận tải trong mối quan hệ tƣơng đối về không gian và thời gian. Để chỉ các công trình giao thông phục vụ phƣơng tiện trong trạng thái di chuyển ngƣời ta dùng thuật ngữ: “Đƣờng giao thông” và “các công trình trên đƣờng”, tập hợp các đƣờng giao thông tạo thành mạng lƣới giao thông. Đối với các công trình giao thông khác, tuỳ vào chức năng, công dụng của nó mà các nƣớc có những tên gọi khác nhau. Chẳng hạn, đối với các điểm đỗ xe, thông thƣờng dùng thuật ngữ “Parking”, điểm đầu cuối thƣờng dùng thuật ngữ “Depot”, điểm trung chuyển dùng thuật ngữ “Terminal” hoặc “Transit”, điểm dừng dọc tuyến buýt gọi là “Bus Stop”, ga đƣờng sắt, cảng đƣờng thủy dùng “Station” hoặc “Port”, ga hàng không dùng thuật ngữ “Airport”.
Nói một cách khác, cơ sở để phân tách các công trình giao thông trên là chức năng của từng công trình theo các phƣơng thức vận tải khác nhau. Tuy nhiên, có thể thấy rằng các công trình trên có một đặc điểm chung là nhằm phục vụ phƣơng tiện vận tải trong thời gian không hoạt động (thời gian dừng công nghệ), để chỉ những công trình này ngƣời ta dùng thuật ngữ “Giao thông tĩnh”. Từ những cơ sở trên, giao thông tĩnh đƣợc hiểu nhƣ sau: “Giao thông tĩnh là một phần của hệ thống giao thông phục vụ phương tiện và hành khách (hoặc hàng hoá) trong thời gian không di chuyển”. Giao thông tĩnh là toàn bộ cơ sở vật chất, kỹ thuật phục vụ cho giao thông nhƣng không trực tiếp tham gia vào quá trình giao thông, kể cả các khu vực không gian là mặt đất, trên cao hay ngầm.
Nhƣ vậy, hệ thống giao thông tĩnh nhìn nhận các thành phần của giao thông tĩnh dƣới góc độ hệ thống, chúng có mối quan hệ tƣơng tác chặt chẽ với nhau trong một tổng thể chung. Các thành phần của hệ thống giao thông tĩnh Theo cách hiểu trên, giao thông tĩnh gồm hệ thống các ga hàng hoá và hành khách của các phƣơng thức vận tải (các nhà ga đường sắt, các bến cảng 11 thuỷ, ga hàng không, các nhà ga vận tải ô tô), các bãi đỗ xe, gara, các điểm trung chuyển, các điểm dừng dọc tuyến, các điểm cung cấp nhiên liệu. Bến xe: là điểm đỗ cho phƣơng tiện thực hiện hoạt động vận tải (đón - trả hành khách và hàng hóa) và là đầu mối chuyển tiếp nhu cầu vận tải đối ngoại, nội thị, địa điểm cố định đƣợc chính quyền cho phép, tuân thủ sự quản lý của Nhà nƣớc và địa phƣơng (nơi xuất phát và kết thúc). Trong đó: Bến xe ô tô hàng (bến xe hàng): là công trình thuộc kết cấu hạ tầng giao thông đƣờng bộ thực hiện chức năng phục vụ xe ô tô vận tải hàng hóa nhận, trả hàng và các dịch vụ hỗ trợ vận tải hàng hóa.
Bến xe ô tô khách (bến xe khách): là công trình thuộc kết cấu hạ tầng giao thông đƣờng bộ thực hiện chức năng phục vụ xe ô tô đón, trả hành khách và các dịch vụ hỗ trợ vận tải hành khách. Bãi đỗ xe: là công trình thuộc kết cấu hạ tầng giao thông đƣờng bộ thực hiện chức năng phục vụ trông giữ ô tô và các phƣơng tiện giao thông đƣờng bộ khác. Trạm dừng nghỉ là công trình thuộc kết cấu hạ tầng giao thông đƣờng bộ thực hiện chức năng phục vụ ngƣời và phƣơng tiện dừng, nghỉ trong quá trình tham gia giao thông trên các tuyến vận tải đƣờng bộ. Điểm dừng xe buýt là những vị trí xe buýt phải dừng để đón hoặc trả khách theo quy định của cơ quan có thẩm quyền.
Điểm đầu, cuối của tuyến xe buýt là nơi bắt đầu, kết thúc của một hành trình xe buýt chạy trên một tuyến. Vị trí, vai trò và chức năng, nhiệm vụ của giao thông tĩnh đô thị * Vị trí của giao thông tĩnh - Là bộ phận quan trọng của kết cấu hạ tầng giao thông vận tải. - Là nơi đỗ cho phƣơng tiện khi ở trạng thái tĩnh. - Là đầu mối chuyển tiếp của hành khách và hàng hoá.
- Là công trình mang tính chất dịch vụ. 12 - Là nơi tập trung lớn hành khách và hàng hoá, phản ánh lối sống, văn hoá, văn minh của địa phƣơng. Hoạt động giao thông tĩnh đô thị giữ vai trò hết sức quan trọng trong việc thỏa mãn các nhu cầu của các phƣơng tiện vận tải trong đó có nhu cầu dừng, đỗ gửi xe (giữ gìn và bảo quản phƣơng tiện), cung cấp các dịch vụ kỹ thuật phƣơng tiện (Bảo dƣỡng, sửa chữa), dịch vụ phục vụ (cung cấp dịch vụ chỉ dẫn, thông tin) cho phƣơng tiện vận tải cũng nhƣ đƣợc coi là công cụ điều tiết phƣơng tiện giao thông và điều hòa dòng giao thông trong thành phố. Cụ thể thông qua quy hoạch hệ thống điểm đỗ xe, chính sách về giá trong khai thác và vận hành hệ thống điểm đỗ xe hoặc tổ chức quản lý hoạt động cung ứng dịch vụ đỗ, gửi xe cho phù hợp với sự phát triển đô thị theo từng thời kỳ hay giai đoạn khác nhau.
Đây là công cụ quan trọng cho phép các đô thị có thể kiểm soát chặt chẽ sự gia tăng của phƣơng tiện cá nhân, tạo điều kiện cho vận tải hành khách công cộng phát triển nhằm giảm ùn tắc giao thông, cải thiện môi trƣờng. * Vai trò của giao thông tĩnh - Bãi đỗ xe là nơi diễn ra các hoạt động giao thông. Đáp ứng một dạng nhu cầu giao thông lớn của địa phƣơng. Đáp ứng nhu cầu đỗ của phƣơng tiện khi ở trạng thái tĩnh.
- Là cơ sở để các nhà tổ chức, quy hoạch giao thông và chính quyền thông qua để triển khai các chiến lƣợc phát triển và khai thác vận hành hệ thống giao thông. - Tạo công ăn việc làm, đem lại nguồn thu có thể đầu tƣ cho các hoạt động giao thông phải bù lỗ. * Chức năng nhiệm vụ của hệ thống giao thông tĩnh đô thị Trong hệ thống giao thông tĩnh, hệ thống điểm, bến, bãi đỗ xe thực hiện nhiều chức năng khác nhau nhƣ: - Chức năng dừng đỗ phƣơng tiện: Giữ gìn, bảo quản phƣơng tiện. 13 - Chức năng dịch vụ kỹ thuật phƣơng tiện: Dịch vụ bảo dƣỡng, sửa chữa.
- Chức năng mỹ quan, kiến trúc: Tạo cảnh quan kiến trúc đô thị. - Chức năng dịch vụ phục vụ: Cung cấp các dịch vụ chỉ dẫn, thông tin. Chính sách phát triển hệ thống giao thông tĩnh 1. Khái niệm chính sách công Hiện nay có nhiều cách tiếp cận về khái niệm chính sách công.
Cho dù có nhiều định nghĩa khác nhau nhƣ vậy, nhƣng tất cả các định nghĩa đều thống nhất ở hai điểm cơ bản, đó là chính sách công bắt nguồn từ các quyết định do nhà nƣớc ban hành và các quyết định của nhà nƣớc không làm gì và nhiều chính sách là những quyết định làm gì. Thuật ngữ chính sách công đƣợc nhiều nhà nghiên cứu tiếp cận dƣới nhiều góc độ khác nhau. Thomas Dye đƣa ra một định nghĩa súc tích về chính sách công nhƣ sau: “Bất cứ những gì mà nhà nước lựa chọn làm hoặc không làm”[5]. Khái niệm về chính sách công của William Jenkins cụ thể hơn so với định nghĩa trên.
Theo ông chính sách công là “một tập hợp các quyết định liên quan với nhau được ban hành bởi một nhà hoạt động chính trị hoặc một nhóm các nhà hoạt động chính trị liên quan đến lựa chọn các mục tiêu và các phương tiện để đạt mục tiêu trong một tình huống cụ thể thuộc phạm vi thẩm quyền của họ” [6].