Tổng quan nghiên cứu

Ngành du lịch toàn cầu trong giai đoạn 1995-2001 ghi nhận tốc độ tăng trưởng bình quân 3,8%/năm, đạt quy mô 696,8 triệu lượt khách quốc tế với tổng thu nhập 474,4 tỷ USD vào năm 2000. Cùng với xu thế đó, du lịch Việt Nam bứt phá mạnh mẽ từ 250.000 lượt khách quốc tế năm 1990 lên 2,627 triệu lượt năm 2002, trong khi khách nội địa cán mốc 13 triệu lượt. Nằm trong không gian kinh tế trọng điểm phía Nam, tỉnh Bình Thuận sở hữu 192 km bờ biển cùng diện tích tự nhiên 7.855 km2, nhanh chóng vươn lên thành trung tâm nghỉ dưỡng nổi tiếng. Tuy nhiên, sự phát triển nóng sau hiện tượng nhật thực toàn phần năm 1995 đã bộc lộ nhiều điểm nghẽn: hạ tầng kỹ thuật thiếu đồng bộ, sản phẩm đơn điệu, sự phát triển mang tính tự phát và nguy cơ suy thoái môi trường sinh thái.

Nghiên cứu được thực hiện nhằm phân tích toàn diện tiềm năng, đánh giá thực trạng hoạt động du lịch giai đoạn 1991-2002, nhận diện các điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức. Từ đó, tác giả xây dựng hệ thống định hướng và giải pháp chiến lược phát triển ngành du lịch tỉnh Bình Thuận đến năm 2010. Phạm vi không gian bao quát toàn bộ địa bàn tỉnh với trọng tâm là dải ven biển Phan Thiết, Hàm Tân, Tuy Phong và vùng phụ cận liên kết Đông Nam Bộ, Tây Nguyên. Công trình có ý nghĩa thực tiễn to lớn trong việc hiện thực hóa mục tiêu nâng tỷ trọng GDP du lịch từ 5,65% năm 2001 lên 14,8% năm 2010, đưa doanh thu chuyên ngành đạt 1.812 tỷ đồng và tạo việc làm cho hàng vạn lao động địa phương.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu xây dựng trên nền tảng lý thuyết quản trị chiến lược hiện đại kết hợp các mô hình kinh tế du lịch bền vững. Tác giả vận dụng quan điểm phân loại của Krippendorf và Jungk về hai thái cực: du lịch cứng (hard tourism) phát triển tự phát, khai thác cạn kiệt tài nguyên và du lịch mềm (soft tourism) ưu tiên quy hoạch tổng thể, gắn liền với giáo dục môi trường và sự tham gia của cộng đồng bản địa. Bên cạnh đó, mô hình vòng đời điểm đến du lịch (Tourism Area Life Cycle) của Butler gồm 6 giai đoạn (khám phá, tham gia, phát triển, hoàn chỉnh, quá tải, suy tàn) được sử dụng để xác định vị thế hiện tại của các khu du lịch địa phương.

Khung phân tích chiến lược của Fred R. David được tích hợp xuyên suốt thông qua ma trận đánh giá các yếu tố bên ngoài (EFE), ma trận đánh giá các yếu tố bên trong (IFE) và ma trận điểm mạnh - điểm yếu - cơ hội - nguy cơ (SWOT). Các khái niệm cốt lõi bao gồm: mô hình sản phẩm du lịch biển 3S (Sea - Sun - Sand), định nghĩa du lịch sinh thái của Tổ chức Du lịch Thế giới (WTO) và khái niệm sức chứa du lịch (Carrying Capacity). Những cấu trúc lý thuyết này cung cấp lăng kính khoa học để định vị sản phẩm nghỉ dưỡng cao cấp kết hợp văn hóa bản địa.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn được thu thập từ Niên giám thống kê tỉnh Bình Thuận, các báo cáo tổng kết của Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Thương mại - Du lịch tỉnh Bình Thuận và Tổng cục Du lịch giai đoạn 1991-2002. Cỡ mẫu nghiên cứu bao gồm toàn bộ 247 dự án đầu tư du lịch được phê duyệt, 67 doanh nghiệp lưu trú đạt chuẩn với 1.895 phòng và 7.843 lao động đang làm việc trong hệ thống nhà hàng - khách sạn tính đến cuối năm 2002. Phương pháp chọn mẫu là điều tra toàn bộ kết hợp chọn mẫu cụm đại diện cho các cơ sở kinh doanh phân bố dọc theo 5 huyện, thành phố ven biển.

Tác giả lựa chọn phương pháp lịch sử và phương pháp thống kê mô tả kết hợp phân tích ma trận lượng hóa (EFE, IFE, SWOT). Lý do lựa chọn tổ hợp phương pháp này là nhằm phản ánh khách quan quá trình chuyển dịch dữ liệu chuỗi thời gian 10 năm (1993-2002), đồng thời lượng hóa được mức độ phản ứng chiến lược của các chủ thể quản lý trước 12 yếu tố môi trường nội bộ và 11 yếu tố môi trường bên ngoài. Timeline nghiên cứu tập trung vào giai đoạn điều tra thực địa 1991-2002 và lập mô hình dự báo chiến lược cho mốc thời gian 2005-2010.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, lượng khách du lịch đến Bình Thuận tăng trưởng nhảy vọt. Giai đoạn 1993-2002, tốc độ tăng trưởng bình quân lượt khách quốc tế đạt 40,68%/năm và khách nội địa đạt 53,91%/năm, vượt xa mức bình quân chung của cả nước (lần lượt là 16,26%/năm và 10,95%/năm). Từ mức khiêm tốn 22.162 lượt khách năm 1991, toàn tỉnh đã đón 869.700 lượt khách vào năm 2001, trong đó khách quốc tế đạt 69.700 lượt, chủ yếu đến từ Tây Âu (chiếm 55%) và Đông Bắc Á (chiếm 22,5%).

Thứ hai, cơ cấu kinh tế ngành có sự chuyển biến tích cực. Doanh thu du lịch tăng trưởng bình quân 37%/năm. Năm 2000, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài chiếm 50,1% tổng doanh thu, kinh tế tư nhân chiếm 24,74%, trong khi doanh nghiệp Nhà nước giảm xuống còn 25,16%. Đóng góp của du lịch vào GDP toàn tỉnh tăng từ mức không đáng kể lên 5,18% năm 2000 và đạt 5,65% năm 2001 (tương đương 194 tỷ đồng). Mức chi tiêu bình quân của khách quốc tế đạt 61 USD/ngày và khách nội địa đạt 20,5 USD/ngày.

Thứ ba, năng lực lưu trú và thu hút đầu tư bùng nổ mạnh mẽ. Từ 11 đơn vị với 238 phòng năm 1994, đến cuối năm 2002 đã có 67 đơn vị kinh doanh lưu trú với 1.895 phòng chuẩn, trong đó 880 phòng đạt chuẩn 1-4 sao (chiếm 44,33%). Tỉnh đã thu hút 247 dự án đầu tư du lịch với tổng vốn đăng ký 2.188 tỷ đồng trên 565 ha đất, bao gồm 11 dự án FDI đạt vốn đăng ký 33,28 triệu USD.

Thứ tư, tồn tại các điểm nghẽn nghiêm trọng về hạ tầng và thời gian lưu trú. Thời gian lưu trú bình quân giai đoạn 1996-2000 chỉ đạt 1,5 ngày/khách (khách quốc tế đạt 2 ngày). Dù ngân sách đã chi hơn 81 tỷ đồng làm đường giao thông trên tổng mức đầu tư hạ tầng 120 tỷ đồng giai đoạn 1994-2002, hệ thống cấp điện, cấp nước sạch và xử lý rác thải tại các khu du lịch mới như Thuận Quý, Khe Gà vẫn chưa hoàn chỉnh.

Thảo luận kết quả

Dữ liệu chuỗi thời gian được hệ thống hóa rõ ràng thông qua bảng so sánh đa tiêu chí và biểu đồ ma trận chiến lược. Bảng đánh giá ma trận IFE cho thấy tổng điểm quan trọng đạt 2,50 điểm, trong khi ma trận EFE đạt 2,55 điểm. Điểm số này phản ánh khả năng tận dụng cơ hội và kiểm soát điểm yếu của ngành du lịch Bình Thuận mới ở mức trung bình khá. Khi so sánh với các đối thủ cạnh tranh trực tiếp như Khánh Hòa hay Bà Rịa - Vũng Tàu, Bình Thuận có lợi thế cạnh tranh vượt trội về giá dịch vụ và quỹ đất ven biển hoang sơ, nhưng lại thua kém về độ đa dạng của sản phẩm vui chơi giải trí và nguồn vốn đầu tư hạ tầng ngân sách.

Nguyên nhân chính khiến sản phẩm đơn điệu bắt nguồn từ việc các nhà đầu tư chỉ tập trung xây dựng cụm resort ven biển (hơn 22 resort tại Hàm Tiến - Mũi Né) mà chưa chú trọng các dịch vụ thể thao biển, chữa bệnh bằng nước khoáng hay tôn tạo 23 di tích lịch sử văn hóa. Đối chiếu với mô hình Butler, khu du lịch dã ngoại Mũi Né - Hòn Rơm đã xuất hiện dấu hiệu quá tải cục bộ vào các dịp lễ tết, gây áp lực lên 368.319 ha rừng tự nhiên và nguồn nước ngầm. Do đó, việc chuyển dịch chiến lược sang chiều sâu là đòi hỏi cấp bách.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, thực thi chiến lược tăng trưởng tập trung bằng cách thâm nhập và mở rộng thị trường du khách. Đẩy mạnh thu hút nguồn khách có khả năng chi trả cao từ thị trường Tây Âu, Bắc Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc và lượng khách nghỉ dưỡng cuối tuần từ Thành phố Hồ Chí Minh. Phấn đấu đạt mốc 150.000 lượt khách quốc tế vào năm 2005 và 350.000 lượt vào năm 2010, đồng thời nâng lượng khách nội địa lên 3.000.000 lượt vào năm 2010. Chủ thể thực hiện là Sở Thương mại - Du lịch cùng các hiệp hội lữ hành.

Thứ hai, đa dạng hóa và nâng cấp chuỗi sản phẩm du lịch biển kết hợp sinh thái rừng núi. Khẩn trương triển khai các dự án quy mô lớn như cáp treo Núi Tà Kú, khu lặn biển Cù Lao Câu, tổ hợp giải trí Lầu Ông Hoàng và khai thác các mỏ nước khoáng Vĩnh Hảo, Đa Kai, Bưng Thị. Mở rộng tuyến du lịch sinh thái liên tỉnh theo Quốc lộ 28 nối Phan Thiết - Hàm Thuận - Đa Mi - Bảo Lộc để kết nối biển và hoa Đà Lạt, kéo dài thời gian lưu trú lên 3,0 ngày/khách vào năm 2010. Chủ thể thực hiện là các doanh nghiệp đầu tư và chính quyền địa phương.

Thứ ba, áp dụng cơ chế liên kết công - tư để phát triển hạ tầng và đào tạo nhân lực. Ban hành chính sách cho phép doanh nghiệp tự đầu tư hạ tầng nội bộ khu du lịch và khấu trừ vào tiền thuê đất hoặc thuế thu nhập doanh nghiệp, giảm áp lực cho ngân sách tỉnh. Phối hợp với các trường đại học chuẩn hóa kỹ năng nghề cho 7.843 lao động hiện có, nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo chuyên môn đạt 70-75% năm 2005 và đạt 85-90% vào năm 2010. Chủ thể chịu trách nhiệm là UBND tỉnh Bình Thuận và Sở Giáo dục & Đào tạo.

Thứ tư, tăng cường quản lý Nhà nước và bảo vệ nghiêm ngặt tài nguyên môi trường. Tiến hành quy hoạch chi tiết các phân khu chức năng, di dời dứt điểm các khu dân cư xen ghép thiếu kiểm soát môi trường trong vùng dự án. Thiết lập hệ thống quan trắc sinh thái biển và trạm xử lý chất thải tập trung tại 22 khu resort Hàm Tiến - Mũi Né trước năm 2006. Chủ thể thực hiện là Sở Tài nguyên & Môi trường và Ban Quản lý các khu du lịch trọng điểm.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm cơ quan quản lý Nhà nước và các nhà hoạch định chính sách du lịch: Sở Du lịch, Sở Kế hoạch và Đầu tư, UBND các cấp có thể khai thác phương pháp ma trận EFE/IFE và hệ thống số liệu quy hoạch 192 km dải ven bờ để xây dựng chiến lược phát triển kinh tế - xã hội địa phương.

Nhóm nhà đầu tư và doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ du lịch: Các chủ đầu tư resort, khách sạn, công ty lữ hành sử dụng mô hình dự báo thị trường và cơ cấu chi tiêu 61 USD/ngày để xây dựng phương án kinh doanh, định vị phân khúc khách hàng mục tiêu tại khu vực Mũi Né, Hàm Tân, Tuy Phong.

Nhóm giảng viên, nghiên cứu sinh và sinh viên ngành Quản trị Kinh doanh, Du lịch học: Sử dụng luận văn như một tài liệu nghiên cứu tình huống điển hình về ứng dụng lý thuyết quản trị chiến lược của Fred R. David kết hợp mô hình vòng đời điểm đến Butler trong thực tiễn phát triển kinh tế vùng duyên hải.

Nhóm chuyên gia quy hoạch đô thị và quản lý tài nguyên môi trường: Tham khảo các tiêu chí đánh giá sức chứa sinh thái, giải pháp bảo vệ 368.319 ha rừng và 7 lưu vực sông nhằm giải quyết hài hòa xung đột giữa phát triển công trình nghỉ dưỡng và bảo tồn văn hóa làng chài bản địa.

Câu hỏi thường gặp

Hiện tượng nhật thực toàn phần năm 1995 có vai trò như thế nào đối với du lịch Bình Thuận? Sự kiện nhật thực ngày 24/10/1995 là cú hích lịch sử đưa hàng vạn du khách và nhà khoa học quốc tế đến Phan Thiết. Nhờ đó, vẻ đẹp hoang sơ của 192 km bờ biển được khám phá, kích hoạt làn sóng đầu tư và đưa tốc độ tăng trưởng khách du lịch giai đoạn 1996-2000 đạt hơn 53%/năm, gấp hơn 2 lần giai đoạn trước năm 1995.

Điểm số ma trận IFE (2,50) và EFE (2,55) phản ánh thực trạng gì của ngành? Thang điểm 4,0 cho thấy năng lực nội bộ và khả năng ứng biến của du lịch Bình Thuận đang ở mức trung bình. Điểm mạnh nổi trội là tài nguyên tự nhiên và khả năng thu hút 2.188 tỷ đồng vốn đầu tư, nhưng bị kéo giảm bởi điểm yếu về hạ tầng giao thông và chất lượng nguồn nhân lực chỉ có 175 người đạt trình độ đại học.

Tại sao luận văn đề xuất ưu tiên khai thác thị trường khách nội địa bên cạnh khách quốc tế? Thị trường khách quốc tế tiềm ẩn rủi ro do biến động kinh tế toàn cầu, dịch bệnh đường hô hấp SARS và bất ổn an ninh. Ngược lại, nhu cầu nghỉ dưỡng từ Thành phố Hồ Chí Minh và miền Đông Nam Bộ tăng rất mạnh, tạo nguồn thu ổn định để thúc đẩy mục tiêu đón 3.000.000 lượt khách nội địa năm 2010.

Các giải pháp khắc phục tình trạng sản phẩm du lịch đơn điệu là gì? Luận văn đề xuất chiến lược đa dạng hóa sản phẩm bằng cách đầu tư cáp treo Tà Kú, khu lặn biển ngắm san hô Cù Lao Câu, tắm bùn khoáng Vĩnh Hảo và du lịch sinh thái hồ Hàm Thuận - Đa Mi. Các mô hình này giúp kéo dài thời gian lưu trú từ 1,5 ngày lên 3,0 ngày/khách.

Mục tiêu kinh tế trọng tâm của du lịch Bình Thuận đến năm 2010 là gì? Theo phương án tăng trưởng cao, GDP ngành du lịch đạt 1.812 tỷ đồng vào năm 2010, chiếm 14,8% tổng GDP toàn tỉnh. Toàn ngành phấn đấu thu hút 350.000 lượt khách quốc tế, 3.000.000 lượt khách nội địa và nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo lên 85-90%.

Kết luận

  • Hệ thống hóa cơ sở lý luận vững chắc về quản trị chiến lược và mô hình phát triển du lịch mềm bền vững tại các vùng ven biển giàu tài nguyên.
  • Phân tích sâu sắc bước nhảy vọt thực tiễn của du lịch Bình Thuận từ 22.162 lượt khách năm 1991 lên 869.700 lượt khách năm 2001 với mức tăng doanh thu 37%/năm.
  • Lượng hóa chính xác năng lực cạnh tranh địa phương thông qua ma trận IFE đạt 2,50 điểm, ma trận EFE đạt 2,55 điểm và ma trận SWOT.
  • Thiết lập 3 định hướng chiến lược then chốt cùng 4 nhóm giải pháp đột phá về hoàn thiện hạ tầng 192 km ven biển, đa dạng hóa sản phẩm và phát triển nhân lực.
  • Hoạch định lộ trình chuyển dịch cơ cấu đưa du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, đóng góp 14,8% vào GDP toàn tỉnh vào năm 2010.

Công trình luận văn thạc sĩ này là tài liệu tham khảo học thuật và thực tiễn có giá trị cao, đóng góp nền tảng phương pháp luận cho quá trình quy hoạch du lịch bền vững. Quý độc giả, các nhà nghiên cứu và doanh nghiệp hãy khai thác ngay nguồn tư liệu khoa học này để áp dụng vào các dự án nghiên cứu và chiến lược đầu tư thực tế.