CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CHIẾN LƯỢC KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP 1.1 CHIẾN LƯỢC KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP 1.1 Khái niệm về chiến lược kinh doanh “Chiến lược” là thuật ngữ được đề cập lần đầu trong lĩnh vực quân sự trong việc xem xét đánh giá để đề ra việc bài binh bố trận cho cuộc chiến, xem xét đánh giá địa hình, tương quan lực lượng,… của các bên tham chiến. Từ đó các nhà cầm quân sẽ đề ra chiến lược thích ứng. Trong kinh doanh, vấn đề chiến lược cũng rất cấp thiết do sự cạnh tranh quyết liệt giữa các chủ thể kinh doanh để tồn tại và phát triển. Vấn đề này được các nhà nghiên cứu phát biểu dưới nhiều hình thức khác nhau.
Theo Raymond Alain – ThiéTart, chiến lược là tổng thể các quyết định, các hành động liên quan đến việc lựa chọn và phân bổ nguồn lực nhằm đạt được mục tiêu nhất định. Theo Henry Mintzbegs, Chiến lược là tiến trình đề ra các quyết định và hành động một cách liên tục. Chandler, Chiến lược là tiến trình xác định các mục tiêu cơ bản dài hạn của doanh nghiệp, lực chọn cách thức hoặc phương hướng hành động và phân bổ nguồn lực cần thiết để thực hiện các mục tiêu đó. Glueck, Chiến lược kinh doanh là một kế hoạch mang tính thống nhất, tính toàn diện và tính phối hợp được thiết kế để đảm bảo rằng các mục tiêu cơ bản của doanh nghiệp sẽ được thực hiện.
David, Chiến lược kinh doanh là một nghệ thuật và khoa học thiết lập, thực hiện và đánh giá các quyết định liên quan nhiều chức năng cho phép một tổ chức đạt được những mục tiêu đề ra.Strickland III thì chiến lược kinh doanh là một chuỗi những hoạt động cạnh tranh và phương thức quản lý tiếp cận trong kinh doanh để đạt được kết quả kinh doanh thành công. Chiến lược kinh doanh thật sự là kế hoạch của nhà quản lý nhằm củng cố vị trí của tổ chức, thỏa mãn nhu cầu của khách hàng và đạt được những mục tiêu kinh doanh mong muốn. Porter – giáo sư nổi tiếng về chiến lược kinh doanh của trường đại học Harvard đã phát biểu quan niệm chiến lược “Chiến lược là gì?”, M. Porter cho rằng : Thứ nhất, chiến lược là sự sáng tạo ra vị thế có giá trị và độc đáo bao gồm các hoạt động khác biệt.
Cốt lõi của thiết lập vị thế chiến lược là việc chọn lựa các hoạt động khác với các nhà cạnh tranh (Sự khác biệt này có thể là những hoạt động khác biệt so với các nhà cạnh tranh hoạt các hoạt động tương tự nhưng với cách thức thực hiện khác biệt). Thứ hai, chiến lược là sự chọn lựa, đánh đổi trong cạnh tranh. Điểm cốt lõi là chọn lựa những gì cần thực hiện và những gì không thực hiện. Thứ ba, chiến lược là việc tạo ra sự phù hợp giữa tất cả các hoạt động của công ty.
Sự thành công của chiến lược phụ thuộc vào việc thực hiện tốt các hoạt động và sự hội nhập, hợp nhất của chúng. Qua các khái niệm trên, có thể hiểu chiến lược là một chương trình hành động tổng quát, bao gồm xác định mục tiêu dài hạn, cơ bản của doanh nghiệp; lực chọn cách thức hoạt động và các chính sách thích ứng trong việc sử dụng nguồn lực nhằm đạt được mục tiêu được đề ra một cách hiệu quả, giành được và duy trì lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường và trước đối thủ cạnh tranh.2 Vai trò của chiến lược kinh doanh * Quản trị chiến lược sẽ giúp ích cho doanh nghiệp rất nhiều để hoạt động sản xuất kinh doanh thành công, canh tranh tốt và phát triển bền vững. 3 - Thứ nhất, quá trình quản trị chiến lược giúp doanh nghiệp có sự đồng tâm nhất trí hướng đi trong tương lai, xác định sứ mạng và mục tiêu, lựa chọn hướng đi và thời gian để đạt được mục tiêu. Từ đó, giúp các nhà quản trị nhận biết được các công việc cần thiết để cải thiện tốt hơn lợi ích lâu dài của doanh nghiệp.
- Thứ hai, điều kiện môi trường mà các tổ chức gặp phải luôn biến đổi. Những biến đổi nhanh thường tạo ra cơ hội và nguy cơ bất ngờ. Quản trị chiến lược giúp doanh nghiệp chủ động tận dụng được cơ hội và ứng phó với nguy cơ từ môi trường. - Thứ ba, quản trị chiến lược giúp doanh nghiệp sử dụng có hiệu quả các nguồn lực hạn hẹp của mình.
- Thứ tư, phần lớn các doanh nghiệp sau khi vận dụng chiến lược đều đạt được kết quả tốt hơn nhiều so với kết quả mà họ đạt được trước đó và các kết quả của doanh nghiệp không vận dụng chiến lược. * Bên cạnh những ưu điểm trên, quản trị chiến lược cũng có một số nhược điểm chính khi áp dụng vào sản xuất kinh doanh cần lưu ý. - Thứ nhất, để thiết lập quá trình quản trị chiến lược cần nhiều thời gian và nổ lực. Tuy nhiên, một khi tổ chức đã có kinh nghiệm thì vấn đề thời gian sẽ giảm bớt, hơn nữa, vấn đề thời gian cần cho việc lập chiến lược sẽ kém phần quan trọng nếu doanh nghiệp được bù đắp nhiều lợi ích hơn.
- Thứ hai, các chiến lược kinh doanh có thể bị xem tựa như chúng được lập ra một cách cứng nhắc khi đã được ấn định bằng văn bản. Đây là nhận thức sai lầm nghiêm trọng vì chiến lược phải năng động và phát triển phù hợp với (1) điều kiện môi trường biến đổi, và (2) doanh nghiệp có thể đi theo các mục tiêu mới hoặc mục tiêu sửa đổi. - Thứ ba, dự báo về môi trường không chính xác. - Thứ tư, một số doanh nghiệp dường như chỉ ở giai đoạn kế hoạch hóa và chú ý quá ít đến quá trình triển khai thực hiện.
Hiện tượng này khiến một số nhà quản trị nghi ngờ về tính hữu ích của quá trình quản trị chiến lược.3 Mô hình quản trị chiến lược 1.1 Những mức độ quản trị chiến lược Quản trị chiến lược có thể xảy ra ở nhiều tầm mức khác nhau trong tổ chức, trước đây người ta thường phân hệ thống chiến lược trong một công ty thành ba cấp: - Chiến lược cấp công ty: là chiến lược có tính tổng thể, bao trùm toàn bộ doanh nghiệp, thể hiện rõ phương hướng, mục tiêu kinh doanh mà doanh nghiệp theo đuổi, các chính sách đầu tư và phân bổ nguồn lực để thực hiện hoạt động kinh doanh nhằm đạt được mục tiêu đề ra. - Chiến lược cấp kinh doanh: là cách thức mỗi đơn vị kinh doanh sử dụng để tạo lợi thế cạnh tranh thông qua việc xác định các nguồn lực và các phối thức cần thiết cho từng hoạt động kinh doanh, thị trường cụ thể của mỗi đơn vị kinh doanh. Theo Michael Porter, có ba chiến lược cạnh tranh tổng quát: Chiến lược chi phí thấp, chiến lược khác biệt hóa sản phẩm và chiến lược tập trung vào một phân khúc thị trường nhất định. Đối với doanh nghiệp đơn ngành quá trình tăng trưởng nhưng không có sự đa dạng hóa thì chiến lược cấp công ty chính là chiến lược kinh doanh.
- Chiến lược cấp chức năng: là chiến lược của bộ phận tác nghiệp trong doanh nghiệp, gồm chiến lược marketing, dịch vụ khách hàng, tài chính, nghiên cứu và phát triển, vận hành, nguồn nhân lực, Logistics,… Chiến lược cấp chức năng được xây dựng và phát triển nhằm phát huy năng lực và nâng cao kết quả hoạt động của các bộ phận chức năng để đạt tới mục tiêu chiến lược kinh doanh của từng đơn vị kinh doanh cũng như chiến lược cấp công ty của cả tổng thể doanh nghiệp. Hiện nay, với xu thế toàn cầu hóa, nhiều công ty đang nhanh chóng đưa hoạt động của mình vượt ra khỏi biên giới của một quốc gia và người ta nói tới một cấp chiến lược thứ tư, đó là “Chiến lược toàn cầu”.2 Các giai đoạn quản trị chiến lược: Quản trị chiến lược được chia ra làm 03 giai đoạn, đó là giai đoạn hình thành chiến lược, giai đoạn thực hiện chiến lược và giai đoạn đánh giá kiểm tra chiến lược. - Giai đoạn thứ nhất của quản trị chiến lược là giai đoạn hình thành chiến lược + Hình thành chiến lược là quá trình thiết lập sứ mạng kinh doanh, thực hiện điều tra nghiên cứu để xác định các mặt mạnh và mặt yếu bên trong doanh nghiệp, cơ hội và nguy cơ từ bên ngoài, đề ra các mục tiêu dài hạn, xây dựng và lựa chọn những chiến lược để thay thế. + Ba hoạt động cơ bản trong hình thành chiến lược là: tiến hành nghiên cứu, hòa hợp trực giác và phân tích, và đưa ra quyết định.
- Giai đoạn thứ hai của quản trị chiến lược là thực hiện chiến lược + Thực hiện chiến lược thường được gọi là giai đoạn hành động của quản trị chiến lược. Thực hiện có nghĩa là huy động các nhà quản trị và nhân viên để thực hiện các chiến lược đã được lập ra. + Ba hoạt động cơ bản của giai đoạn thực hiện chiến lược là: thiết lập các mục tiêu hàng năm, đưa ra các chính sách và phân phối các nguồn lực. - Giai đoạn cuối cùng của quản trị chiến lược là đánh giá kiểm tra chiến lược + Trong giai đoạn đánh giá kiểm tra chiến lược, tất cả các chiến lược tùy thuộc vào thay đổi tương lai vì các yếu tố bên trong và bên ngoài thay đổi thường xuyên.
+ Ba hoạt động cơ bản của giai đoạn đánh giá kiểm tra chiến lược là: xem xét lại các yếu tố bên trong và bên ngoài, so sánh kết quả với tiêu chuẩn và thực hiện điều chỉnh.3 Mô hình quản trị chiến lược Quá trình quản trị chiến lược có thể được nghiên cứu và ứng dụng vào việc sử dụng một mô hình.1 là mô hình quản trị chiến lược toàn diện được áp dụng rộng rãi. Mô hình này thể hiện một phương pháp rõ ràng và thực tiễn trong việc hình thành, thực thi và đánh giá kiểm tra chiến lược.1 Mô hình quản trị chiến lược tổng hợp Kiểm soát Thiết lập Thiết lập bên ngoài những mục những mục để xác định tiêu dài hạn tiêu hàn các cơ hội năm và đe dọa chủ yếu Xác định Xem xét Phân Xác định nhiệm vụ lại mục phối các và đánh mục tiêu và tiêu kinh nguồn tài giá thành chiến lược doanh nguyên tích hiện tại [ Kiểm soát Lựa Đề ra bên trong chọn các để nhận chiến chính sách diện những lược điểm mạnh yếu cơ bản Hình thành chiến lược Thực thi chiến lược Đánh giá chiến lược (Nguồn : Khái luận về quản trị chiến lược, Fred R. David, 2006, NXB Thống kê) Quá trình quản trị chiến lược là năng động và liên tục.