Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XÂY DỰNG CHIẾN LƯỢC KINH DOANH Chương này chủ yếu trình bày tóm tắt một số nội dung lý thuyết cơ bản về chiến lược kinh doanh nhằm phục vụ cho việc xây dựng chiến lược kinh doanh của Công ty cổ phần Dây Cáp điện Việt Nam ở chương tiếp theo.1 Tổng quan về chiến lược kinh doanh 1.1 Khái niệm Theo nghĩa thông thường chiến lược (xuất phát từ gốc từ Hy Lạp là Strategos) là một thuật ngữ quân sự được dùng để chỉ kế hoạch dàn trận và phân bố lực lượng với mục tiêu đánh thắng kẻ thù (Harvard Bussiness School, 2005). Đến những năm 50 của thế kỷ 20 thuật ngữ chiến lược kinh doanh mới được ra đời, tuy nhiên do có nhiều cách tiếp cận khác nhau nên tồn tại nhiều khái niệm về chiến lược kinh doanh: Theo James B. Quinn (1980): Chiến lược là một dạng thức hoặc một kế hoạch phối hợp các mục tiêu chính, các chính sách và trình tự hành động thành một tổng thể kết dính lại với nhau.David: “Chiến lược là những phương tiện đạt tới những mục tiêu dài hạn. Chiến lược kinh doanh có thể bao gồm sự phát triển về địa lý, đa dạng hóa hoạt động, sở hữu hóa, phát triển sản phẩm, thâm nhập thị trường, cắt giảm chi tiêu, thanh lý và liên doanh”.
R (1987): Chiến lược là kế hoạch kiểm soát và sử dụng các nguồn lực của tổ chức như con người, tài sản, tài chính. nhằm mục đích nâng cao và bảo đảm những quyền lợi thiết yếu của mình. Theo ông chiến lược là những gì mà một tổ chức phải làm dựa trên những điểm mạnh và yếu của mình trong bối cảnh có những cơ hội và cả những mối đe dọa.Porter (1996): Chiến lược là việc tạo ra một sự hài hòa giữa các họat động của một công ty, qua đó sáng tạo ra vị thế có giá trị và độc đáo. Cốt lõi của chiến lược là tạo ra sự khác biệt trong cạnh tranh.
Theo ông, chiến lược là sự tạo LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 ra vị thế độc đáo và có giá trị bao gồm sự khác biệt hóa, sự lựa chọn mang tính đánh đổi nhằm tập trung nhất các nguồn lực để từ đó tạo ra các ưu thế cho tổ chức. Theo Johnson và Scholes (1999): Chiến lược kinh doanh được hiểu là một kế hoạch dài hạn mang tính tổng thể hay là một chương trình hành động tổng quát nhằm triển khai các nguồn lực trong một môi trường đầy thách thức để đáp ứng được nhu cầu của thị trường và thỏa được kỳ vọng của các bên liên quan. Từ các khái niệm trên cho thấy Quản trị chiến lược có mối quan hệ mật thiết với 3 câu hỏi then chốt: - Mục tiêu kinh doanh của doanh nghiệp là gì ? - Đâu là những cách thức hiệu quả nhất để đạt được mục tiêu ? - Những nguồn lực nào sẽ cần đến và phân bổ như thế nào trong quá trình thực hiện nhiệm vụ đó ? Từ những nghiên cứu trên tác giả cho rằng “chiến lược kinh doanh là bản kế hoạch hành động mà tổ chức sử dụng, phân bổ mọi nguồn lực có thể nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức đó trong ngắn hạn và dài hạn dựa trên những điểm mạnh và điểm yếu trong một môi trường đầy rẫy những cơ hội và thách thức”.2 Phân loại chiến lược kinh doanh Căn cứ vào phạm vi của chiến lược, người ta chia chiến lược kinh doanh làm hai loại: - Chiến lược chung hay còn gọi là chiến lược tổng quát, thường đề cập tới những vấn đề quan trọng nhất và có ý nghĩa lâu dài đối với doanh nghiệp. Chiến lược chung quyết định những vấn đề sống còn của doanh nghiệp.
- Chiến lược bộ phận gồm các chiến lược chức năng như: Chiến lược sản phẩm; Chiến lược marketing; Chiến lược tài chính; Chiến lược phát triển nguồn nhân lực; … Chiến lược chung và chiến lược bộ phận liên kết với nhau thành một chiến lược kinh doanh hoàn chỉnh. Không thể coi là một chiến lược kinh doanh nếu chỉ có một chiến lược chung mà không có chiến lược bộ phận được thể hiện bằng các mục LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 tiêu và mỗi mục tiêu lại được thể hiện bằng một số chỉ tiêu nhất định (Nguyễn Thị Liên Diệp và Phạm Văn Nam, 2006).3 Những lợi ích và hạn chế của chiến lược kinh doanh đối với doanh nghiệp Về lý thuyết cũng như thực tiễn cho thấy, trong xu thế toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế việc xây dựng và thực hiện chiến lược kinh doanh sẽ mang lại các lợi ích cho doanh nghiệp như sau: Giúp doanh nghiệp thấy rõ hướng đi (lộ trình) của mình trong tương lai để quản trị gia xem xét và quyết định doanh nghiệp đi theo hướng nào và khi nào thì đạt tới một mục tiêu cụ thể nhất định. Giúp doanh nghiệp có thể phân tích, đánh giá, dự báo, nhận dạng được các cơ hội – nguy cơ có thể xảy ra trong tương lai đối với hoạt động của mình, nhận dạng được điểm mạnh- điểm yếu của doanh nghiệp. Phân tích sự kết hợp giữa các cơ hội – nguy cơ và điểm mạnh – điểm yếu có thể giúp doanh nghiệp tận dụng cơ hội, phòng tránh và giảm các tác động của nguy cơ, có thể ưa các quyết định phù hợp để đối phó với sự biến động của môi trường kinh doanh.
Chiến lược kinh doanh cũng có những hạn chế nhất định: Doanh nghiệp mất nhiều thời gian, công sức, tiền bạc chi phí cho việc xây dựng chiến lược. Chiến lược là tập hợp những dự báo cho tương lai dài hạn, nhưng được thiết lập trong hiện tại nên giới hạn sai sót trong việc dự báo môi trường đôi khi là rất lớn và trong trường hợp đó chiến lược đã xây dựng trở thành vô ích, ngay cả khi chiến lược được xây dựng phù hợp với thực tiễn nhưng nếu việc tổ chức thực hiện không tốt thì chiến lược cũng thất bại. Nhưng nếu biết khắc phục những nhược điểm và vận dụng tốt mặt tích cực thì chiến lược sẽ mang lại cho doanh nghiệp nhiều cơ hội thành công hơn.2 Quy trình xây dựng chiến lược kinh doanh Vận dụng quy trình xây dựng chiến lược kinh doanh theo mô hình quản trị chiến lược tổng quát của Fred R. David được áp dụng rộng rãi và khá phổ biến hiện nay.
Mô hình này thể hiện một phương pháp rõ ràng và thực tiễn bao gồm ba giai đoạn. Tuy nhiên luận văn chỉ đi sâu vào giai đoạn phân tích và xây dựng chiến lược LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 tức là quá trình phân tích hiện trạng, dự báo, xây dựng và chọn lựa những chiến lược kinh doanh phù hợp.1: Sơ đồ quy trình xây dựng chiến lược kinh doanh. Xác định sứ mạng, mục tiêu, tầm nhìn Phân tích môi Phân tích nội trường để xác bộ để nhận Xác định lại sứ định các cơ diện những mạng và mục hội và đe dọa điểm mạnh tiêu chủ yếu yếu Xây dựng các phương án chiến lược Lựa chọn các chiến lược Đề xuất các giải pháp thực hiện Nguồn: Fred R.1 Xác định sứ mạng, mục tiêu chiến lược và tầm nhìn Sứ mạng: Theo Peter Drucker cho rằng: “Bản sứ mạng kinh doanh là một bản tuyên bố “lý do tồn tại” của một tổ chức. Xác định mục tiêu chiến lược là giai đoạn đầu tiên và cũng là nền tảng cho việc xây dựng chiến lược.
Mục tiêu đề ra cần phải cụ thể, linh hoạt, định lượng được, có tính khả thi, nhất quán và hợp lý. Nó giúp cho việc xây dựng chiến lược doanh nghiệp đi đúng hướng và có thể thực hiện được. Tầm nhìn: Tầm nhìn thể hiện các mong muốn, khát vọng cao nhất, khái quát nhất mà tổ chức muốn đạt được. Cũng có thể coi tầm nhìn là bản đồ đường đi của công ty, trong đó thể hiện đích đến tương lai và con đường mà tổ chức sẽ đi để đến được điểm đích đã định.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.2 Phân tích đánh giá các yếu tố môi trường kinh doanh 1.1 Môi trường vĩ mô Để trả lời câu hỏi “Có những yếu tố vĩ mô nào có ảnh hưởng đến kết quả SXKD của doanh nghiệp?”, các nhà quản trị chiến lược của các doanh nghiệp thường chọn các yếu tố chủ yếu sau đây của môi trường vĩ mô để nghiên cứu: Các yếu tố kinh tế; yếu tố chính phủ và chính trị; yếu tố xã hội; yếu tố tự nhiên và yếu tố công nghệ. Nhận định về mức độ tác động của các yếu tố vĩ mô đến kết quả SXKD của doanh nghiệp người ta tin rằng; các yếu tố kinh tế có ảnh hưởng vô cùng lớn; yếu tố chính phủ và chính trị thì có ảnh hưởng ngày càng lớn; các yếu tố xã hội thường thay đổi chậm đôi khi khó nhận ra (Nguyễn Thị Liên Diệp và Phạm Văn Nam, 2006). Nhóm các yếu tố môi trường vĩ mô thường xuyên vận động, thay đổi và chúng tạo ra các cơ hội- nguy cơ trong sản xuất kinh doanh cho doanh nghiệp. Cần lưu ý là các yếu tố này có tác động tương tác lẫn nhau (tức là chúng không độc lập với nhau).2 Môi trường vi mô Môi trường vi mô bao gồm các yếu tố trong ngành và là yếu tố bên ngoài doanh nghiệp, quyết định tính chất và mức độ cạnh tranh của ngành đó.
Có 5 yếu tố cơ bản (5 áp lực cạnh tranh) là: Các nhà cung ứng; khách hàng; đối thủ cạnh tranh; các đối thủ mới tiềm ẩn và các sản phẩm thay thế (Porter, 1980). Nhóm yếu tố này cũng thường xuyên vận động và thay đổi và chúng cũng tạo ra cơ hội - nguy cơ trong sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Nhưng khác với các yếu tố môi trường vĩ mô, sự tác động của nhóm yếu tố này đến doanh nghiệp mang tính đơn lẻ, tương tác và song phương hơn. Vì vậy bên cạnh khả năng nhận biết, dự báo, thích ứng, tận dụng sự tác động của các yếu tố, doanh ngiệp còn có thể tác động, phản ứng ngược trở lại các chủ thể tác động nêu trên.3 Phân tích các yếu tố nội bộ doanh nghiệp Hoạt động SXKD của doanh nghiệp là quá trình doanh nghiệp huy động các nguồn lực để sản xuất (hay kinh doanh thương mại, dịch vụ) nhằm tạo ra lợi nhuận – mục tiêu cơ bản của doanh nghiệp.
Vì vậy, tất cả các nguồn lực của doanh nghiệp LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11 đều là các yếu tố có ảnh hưởng đến kết quả SXKD của doanh nghiệp. Đó là: vốn, lao động, trình độ công nghệ, năng lực marketing, văn hoá doanh nghiệp,…. các yếu tố nội bộ hình thành nên những “điểm mạnh – điểm yếu” của doanh nghiệp.