Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠCH ĐỊNH CHIẾN LƯỢC 1. Cơ sở lý luận về hoạch định chiến lược. Xác định nhiệm vụ, mục tiêu, chiến lược hiện tại của doanh nghiệp. Việc xác định nhiệm vụ, mục tiêu, chiến lược hiện tại của doanh nghiệp là một trong những nội dung đầu tiên hết sức quan trọng trong quản trị chiến lược, nó tạo cơ sở khoa học cho quá trình phân tích và lựa chọn chiến lược công ty.
Xét lại các nhiệm vụ kinh doanh của doanh nghiệp. Nhiệm vụ của việc kinh doanh là việc tạo lập các thứ tự ưu tiên, các chiến lược, các kế hoạch và việc phân bổ công việc. Đây là điểm khởi đầu cho việc thiết lập các công việc quản lý. Theo Peter Drucker công việc chủ yếu của quản trị chiến lược là suy nghĩ về nhiệm vụ tổng quát trong kinh doanh như: “Ngành kinh doanh của chúng ta là gì?”.
Điều này dẫn đến việc đặt ra các mục tiêu, phát triển các chiến lược và đưa ra các quyết định cho tương lai. Phân tích các yếu tố bên trong. Phân tích nội bộ nhằm biết được các yếu tố nội bộ và hệ thống bên trong của một doanh nghiệp, nhận diện và xác định các ưu điểm và nhược điểm của mình. Trên cơ sở đó đưa ra các biện pháp nhằm giảm bớt các nhược điểm và phát huy các ưu điểm để đạt lợi thế tối đa.
Các yếu tố nội bộ chủ yếu bao gồm các lĩnh vực chức năng như: Quản trị, tài chính kế toán, marketing, sản xuất và tác nghiệp, nghiên cứu và phát triển, hệ thống thông tin. Quản trị Quản trị là những hoạt động cần thiết cho sự tồn tại và phát triển của mọi tổ chức. Quản trị có các chức năng cơ bản: hoạch định, tổ chức, điều khiển và kiểm tra. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - 17 - Hoạch định : Bao gồm tất cả các hoạt động quản trị liên quan đến việc chuẩn bị cho lương lai nhằm định ra mục tiêu và các chiến lược để thực hiện mục tiêu đã định như: dự báo, thiết lập mục tiêu, đề ra chiến lược và thực thi chiến lược.
Tổ chức : Là các hoạt động vạch ra một cấu trúc của tổ chức, xác định những nhiệm vụ phải làm, phạm vi những quyền hạn và trách nhiệm cùng những phạm vi ra quyết định của những cấp quản trị. Điều khiển : Là công việc nhằm định hướng hoạt động của con người, phối hợp những người trong tổ chức, tạo ra môi trường làm việc thích hợp nhất. Kiểm tra : Là các hoạt động quản lý nhằm đảm bảo cho kết quả thực hiện phù hợp với kết quả đã hoạch định. Những hoạt động chủ yếu là: kiểm tra, kiểm soát việc thực hiện các hoạt động để đo lường, so sánh với những hoạt động đã hoạch định từ trước.
Tài chính kế toán. Điều kiện tài chính thường được xem là phương pháp đánh giá vị trí cạnh tranh tốt nhất của công ty và là điều kiện thu hút đối với nhà đầu tư. Để hình thành hiệu quả các chiến lược cần xác định những điểm mạnh điểm yếu về tài chính của tổ chức. Marketing có thể được mô tả như một quá trình xác định, dự báo, thiết lập và thỏa mản nhu cầu mong muốn của người tiêu dùng đối với sản phẩm hay dịch vụ.
Sản xuất và tác nghiệp. Chức năng sản xuất và tác nghiệp trong hoạt động kinh doanh bao gồm tất cả các hoạt động nhằm biến đổi đầu vào thành hàng hóa và dịch vụ. Nghiên cứu và phát triển (R&D). Để nghiên cứu những mặt mạnh và mặt yếu thì hoạt động cần phải xem xét trước tiên đó là hoạt động nghiên cứu và phát triển (R&D).
Hoạt động nghiên cứu LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - 18 - và phát triển nhằm phát triển những sản phẩm mới trước đối thủ cạnh tranh, nâng cao chất lượng sản phẩm,… giúp công ty giữ vững vị trí đi đầu hoặc duy trì tối đa lợi thế cạnh tranh hiện tại. Hệ thống thông tin. Hệ thống thông tin là nguồn cung cấp thông tin quan trọng, nó liên kết tất cả các chức năng trong kinh doanh với nhau và cung cấp cơ sở cho tất cả các quyết định quản trị, giúp cho công ty theo dõi các thay đổi của môi trường, nhận ra các mối đe dọa trong cạnh tranh, phát hiện ra những cơ hội mới cho công ty đồng thời hỗ trợ cho việc thực hiện, đánh giá và kiểm soát chiến lược một cách hiệu quả. Nguồn nhân lực.
Nguồn nhân lực có vai trò quan trọng đối với sự thành bại của công ty. Cho dù chiến lược có đúng đắn và tối ưu đến đâu thì cũng không thể mang lại hiệu quả cao nhất nếu như không có những người thực hiện công việc một cách hiệu quả. Phân tích các yếu tố bên ngoài. Các yếu tố bên ngoài ảnh hưởng trực tiếp đến toàn bộ hoạt động của quá trình quản trị chiến lược.
Đó là những yếu tố, những lực lượng, những thể chế nằm bên ngoài doanh nghiệp mà nhà quản trị không kiểm soát được nhưng chúng lại ảnh hưởng đến hoạt động và kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Việc phân tích môi trường giúp cho doanh nghiệp nhận diện được các yếu tố chủ yếu ảnh hưởng đến quá trình quản trị chiến lược như thế nào? Do đó chiến lược được lựa chọn phải được hoạch định trên cơ sở các điều kiện môi trường đã được nghiên cứu.) Phân tích các yếu tố thuộc môi trường vĩ mô Yếu tố về kinh tế: Các yếu tố kinh tế chủ yếu ảnh hưởng đến doanh nghiệp là: Lãi suất ngân hàng, chính sách tài chính tiền tệ, tỷ lệ lạm phát, tốc độ tăng trưởng GDP, giai đoạn của chu kỳ kinh tế… LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - 19 - Yếu tố về chính trị, luật pháp và chính phủ. Yếu tố chính trị, luật pháp và chính phủ có ảnh hưởng ngày càng lớn trong môi trường kinh doanh nhiều biến động như hiện nay. Đồng thời những quyết định, chính sách như: chính sách thuế, chính sách điều tiết nền kinh tế vĩ mô…có thể tạo cho doanh nghiệp cơ hội tăng trưởng đồng thời cũng có thể đe dọa đến lợi nhuận của doanh nghiệp.
Yếu tố về văn hóa xã hội. Những yếu tố về văn hóa xã hội thường thay đổi hoặc tiến triển chậm và đôi khi khó nhận ra như: tốc độ tăng dân số, thay đổi về nhu cầu, thay đổi về khuôn mẫu hành vi xã hội, …đôi khi nó có ảnh hưởng tiềm tàng trực tiếp đến doanh nghiệp. Yếu tố tự nhiên. Những yếu tố về tự nhiên gần đây cũng nhận được sự quan tâm đáng kể từ doanh nghiệp như: các tiêu chuẩn về môi trường, vấn đề ô nhiễm môi trường, các vấn đề về sử dụng năng lượng và tài nguyên thiên nhiên cùng với sự gia tăng về nhu cầu,… Yếu tố về công nghệ.
Yếu tố về công nghệ ngày nay ảnh hưởng trực tiếp đến sự thành bại của doanh nghiệp hơn bao giờ hết. Công nghệ mới ra đời vừa là cơ hội vừa là đe dọa do có nhiều doanh nghiệp ứng dụng công nghệ mới để cung cấp các sản phẩm, dịch vụ mới có sức cạnh tranh cao đã dẫn tới sự thay đổi nhanh chóng của môi trường kinh doanh.) Phân tích các yếu tố thuộc môi trường vi mô. Môi trường vi mô bao gồm các yếu tố trong ngành và là các yếu tố ngoại cảnh đối với doanh nghiệp, quyết định tính chất và mức độ cạnh tranh trong ngành sản xuất kinh doanh đó. Theo mô hình 5 áp lực cạnh tranh của Micheal Porter có 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - 20 - yếu tố cơ bản là: đối thủ cạnh tranh, người mua, nhà cung ứng, các đối thủ mới có khả năng gia nhập thị trường, sản phẩm hoặc dịch vụ thay thế.
NHỮNG CÔNG TY CÓ KHẢ NĂNG GIA NHẬP THỊ TRƯỜNG Mối đe dọa từ những công ty mới gia nhập Những công ty Sức mạnh mặc cạnh tranh cùng Sức mạnh mặc cả của nhà ngành nghề cả thương lượng NHÀ cung cấp của người mua NGƯỜI CUNG MUA ỨNG Cạnh tranh, đối đầu giữa các công ty đang hoạt động Mối đe dọa của sản phẩm hoặc dịch vụ thay thế SẢN PHẨM HOẶC DỊCH VỤ THAY THẾ Hình 1.1: Mô hình 5 áp lực cạnh tranh của Micheal Porter LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - 21 - Những khách hàng (người mua). Khách hàng là một phần của công ty, sự trung thành của khách hàng là một lợi thế đối với công ty. Nó được tạo dựng bởi sự thỏa mãn và mong muốn của khách hàng. Những nhà cung cấp.
Nhà cung cấp có thể gây một áp lực mạnh trong hoạt động của một doanh nghiệp nên việc nghiên cứu để biết về nhà cung cấp các nguồn lực cho doanh nghiệp là không thể bỏ qua trong quá trình nghiên cứu thị trường. Những công ty có khả năng gia nhập thị trường. Những đối thủ mới có khả năng gia nhập thị trường có nguy cơ ảnh hưởng đến chiến lược kinh doanh của công ty do họ đưa vào khai thác các năng lực sản xuất mới với mong muốn giành được thị phần và các nguồn lực cần thiết. Sản phẩm hoặc dịch vụ thay thế.
Phần lớn sản phẩm hoặc dịch vụ thay thế mới là kết quả của cuộc bùng nổ công nghệ hay từ những ý tưởng, sáng kiến mới lạ. Muốn đạt được thành công các doanh nghiệp cần không ngừng nghiên cứu và kiểm tra các sản phẩm hoặc dịch vụ thay thế, vận dụng công nghệ mới vào chiến lược của mình. Đối thủ cạnh tranh. Việc phân tích mỗi đối thủ cạnh tranh để có được hiểu biết về những hành động và phản ứng của họ nhằm giúp cho doanh nghiệp nhận ra các mối nguy cơ là việc làm cần thiết khi xây dựng chiến lược.
Có bốn yếu tố mang tính dự đoán trong quá trình phân tích đối thủ cạnh tranh: mục tiêu tương lai, chiến lược hiện tại, giả định và khả năng phòng thủ của đối thủ cạnh tranh. Thiết lập các mục tiêu dài hạn Những mục tiêu dài hạn cho thấy những kết quả mong muốn trong một thời gian dài đã được xác định với nhiều nội dung cụ thể hơn là một tôn chỉ sứ mạng. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - 22 - * Các mục tiêu dài hạn thường được thiết lập với những đặc điểm sau : - Có khả năng định lượng, đo lường, thực tế, dễ hiểu, được sắp xếp có hệ thống, có thể đạt được và thích hợp với công ty.