chương 1 tác giả đã tập trung làm rõ những vấn đề lý luận chung về CNH. Ở chương 2 dựa trên các cách phân loại khác nhau tác giả đã phân tích các mô hình CNH trên thế giới từ đó chỉ ra những điểm hợp lý và bất hợp lý ở mỗi mô hình. Qua đó khẳng định CNH, HĐH ở mỗi giai đoạn, nội dung, bước đi và cách thức thực hiện đã có những đổi khác, và cũng không thể có một lời giải chung cho tất cả các quốc gia, mỗi nước đều có sự lựa chọn thích ứng với điều kiện cụ thể của mình. Tác giả cũng đã phác họa mô hình CNH được thực hiện tại Việt Nam qua hai thời kỳ trước và sau năm 1986, và chỉ rõ những bước chuyển lớn trong phát triển tư duy lý luận và thực tiễn của đảng qua 40 năm thực hiện CNH đất nước.
Chương 3 rút ra một số kinh nghiệm CNH ở một số nước trên thế giới như Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc, Sinhapore…vận dụng vào chọn mô hình CNH ở Việt Nam trong điều kiện mới. Phạm Ngọc Dũng trong cuốn Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn từ lý luận đến thực tiễn ở Việt Nam hiện nay [24] đã đề cập tới vai trò quan trọng của CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn trong quá trình CNH, HĐH đất nước, làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn trong phát triển bền vững. Tác giả đã phân tích thực trạng KTXH ở nông thôn nước ta cũng như nguyên nhân nảy sinh vấn đề KTXH bức xúc trong quá trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn hiện nay. Từ đó đưa ra các giải pháp hợp lý có tính thực tiễn cao nhằm thực hiện thắng lợi mục 13 tiêu tổng quát và lâu dài: xây dựng một nền nông nghiệp sản xuất hàng hóa lớn, hiệu quả và bền vững, có năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh cao trên cơ sở ứng dụng các thành tựu KHCN tiên tiến, đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu; xây dựng nông thôn ngày càng giàu đẹp… có cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất phù hợp, kết cấu hạ tầng KTXH phát triển ngày càng hiện đại.
Nguyễn Trọng Chuẩn trong bài Công nghiệp hóa theo hướng hiện đại và sự phát triển bền vững [4] cho rằng dưới góc nhìn lịch sử, sự đánh giá của Đảng về tính tất yếu, vị trí, vai trò của công cuộc CNH đất nước từ Đại hội III (1960) đến Đại hội XI (2011) là nhất quán và xuyên suốt. Chúng ta không thể sớm thoát khỏi tình trạng lạc hậu, kém phát triển nếu không tiến hành CNH theo hướng hiện đại và không từng bước chuyển sang nền kinh tế tri thức. Tuy nhiên để kinh tế phát triển bền vững, thực hiện thành công CNH, HĐH đất nước gắn với phát triển kinh tế tri thức phải kết hợp hài hòa, có hiệu quả ba mục tiêu kinh tế, xã hội và môi trường. Đinh Thế Phong trong bài Công nghệ: con đường duy nhất để công nghiệp hóa ở thế kỷ 21 [63] trên cơ sở luận giải ba đặc điểm chỉ sự khác biệt giữa công nghiệp hóa kinh điển và công nghiệp hóa thế kỷ 21 đã khẳng định: nếu không nghiên cứu, phát hiện quy luật và tìm cách hợp lý để "lách", nghiên cứu các "đứt đoạn" hay còn gọi là các cửa sổ trong sự tiến hóa của công nghệ thì không thể CNH thành công.
Các công trình nghiên cứu về trình độ công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở trong nước Đến nay trong nước đã có nhiều tác giả nghiên cứu đề xuất các bộ tiêu chí đánh giá trình độ CNH, HĐH của cả nước, và có một số nghiên cứu đề xuất bộ tiêu chí đánh giá trình độ CNH, HĐH cho phạm vi một tỉnh. Các nghiên cứu đề xuất bộ tiêu chí đánh giá trình độ công nghiệp hóa, hiện đại hóa của một nước Nguyễn Kế Tuấn và nhóm tác giả cuốn chuyên khảo Phát triển đất nước thành nước công nghiệp hiện đại theo định hướng xã hội chủ nghĩa [87] 14 đã tập hợp khá đầy đủ các công trình nghiên cứu của các tác giả trong nước đề xuất hệ tiêu chí đánh giá trình độ CNH, HĐH của Việt Nam, tiêu biểu như: Tác giả Trương Văn Đoan đề xuất các chỉ tiêu chủ yếu cho Việt Nam gồm 6 nội dung: 1- Lực lượng sản xuất đạt tới trình độ tương đối hiện đại; 2- Quan hệ sản xuất đạt trình độ tiên tiến; 3- Chất lượng đời sống vật chất và văn hóa tương đối cao, đi tới văn minh hiện đại; 4- Thực hiện xã hội công bằng, văn minh; 5- Chủ động hội nhập, liên kết kinh tế, giao lưu văn hóa với thế giới; 6- Bảo đảm vững chắc quốc phòng, an ninh. Một số chỉ tiêu định lượng trong các nội dung đó được thể hiện trong Bảng 1. Bộ tiêu chí do Trương Văn Đoan đề xuất Mức tham khảo Đề xuất Chỉ tiêu cơ bản của NIE’s cho Việt Nam GDP/người (USD) > 3.500 Cơ cấu ngành kinh tế (%) - Công nghiệp và xây dựng 45 - 50 40 - 45 - Dịch vụ 40 - 50 45 - 50 - Nông nghiệp < 10 < 10 Cơ cấu lao động (%) - Phi nông nghiệp 70 - 75 70 - 75 - Nông nghiệp 25 25 Tích lũy/GDP (%) 30 > 30 Đầu tư xã hội/GDP (%) 35 35 - 40 Đóng góp NSLĐ vào tăng GDP (%) 70 > 70 Tốc độ đổi mới công nghệ (%/năm) 15 - 20 15 - 20 Tỷ lệ lao động được đào tạo (%) - > 50 Số cán bộ KHKT/10.200 Nguồn: [87] 15 Bộ chỉ tiêu do tác giả Trương Văn Đoan đề xuất cho Việt Nam chủ yếu gồm các chỉ tiêu thống kê về KTXH.
Tuy nhiên, bộ chỉ tiêu này còn thiếu các chỉ tiêu về môi trường; một số chỉ tiêu có giá trị thấp không còn phù hợp với thực tế hiện nay (như: GDP bình quân đầu người từ 1.500 USD, tuổi thọ trung bình từ 70- 72 tuổi); một số chỉ tiêu không cần thiết (như: về cơ cấu kinh tế, lao động đã có tỷ trọng của ngành nông nghiệp thì không cần thiết có tỷ trọng của các ngành phi nông nghiệp; đã có chỉ tiêu "Tỷ lệ lao động được đào tạo" thì không cần có chỉ tiêu "Số cán bộ Khoa học kỹ thuật/10.000 dân"; đã có chỉ số HDI thì không cần có chỉ tiêu "Tuổi thọ trung bình"). Tác giả Đỗ Quốc Sam đề xuất bộ chỉ tiêu nước công nghiệp gồm 12 chỉ tiêu (Bảng 1. Bộ tiêu chí do Đỗ Quốc Sam đề xuất Chỉ tiêu Đơn vị tính Chuẩn CNH GDP/người (USD) USD > 5.000 Tỷ trọng nông nghiệp/GDP % 10 Tỷ lệ lao động nông nghiệp % < 30 Tỷ lệ đô thị hóa % > 50 Chênh lệch thu nhập nhóm 20% dân số cao/thấp nhất Lần 4 Số bác sĩ/10.000 dân Người 1 Chi phí khoa giáo/GDP % 8 Sinh viên/10.000 dân % 15 Sử dụng Internet/dân số % 25 Tỷ lệ công nghệ cao trong hàng chế tác xuất khẩu % 12 Sử dụng nước sạch/dân số % 100 Độ phủ xanh rừng % 42 Nguồn: [87] Bộ chỉ tiêu nước CNH do tác giả Đỗ Quốc Sam đề xuất đã gồm các chỉ tiêu phản ánh toàn diện cả về kinh tế, xã hội và môi trường của cả nước. Tuy nhiên trong bộ chỉ tiêu còn có chỉ tiêu hàng năm khó thu thập được thông tin để tính toán như: Chi phí khoa giáo/GDP, tỷ lệ công nghệ cao trong hàng chế tác xuất khẩu.
16 Tác giả Cao Viết Sinh trong báo cáo chuyên đề "Tiêu chí nước công nghiệp theo hướng hiện đại" thực hiện theo yêu cầu của Hội đồng lý luận Trung ương (2014), cho rằng: Hệ thống tiêu chí được xây dựng với mục tiêu phấn đấu để đến năm 2020 Việt Nam cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại, trong đó đã đề xuất bộ tiêu chí gồm 15 tiêu chí về KTXH và môi trường (Bảng 1.5) dưới đây: Bảng 1. Bộ tiêu chí do Cao Viết Sinh đề xuất TT Tiêu chí Đơn vị tính Chuẩn CNH I Về phát triển kinh tế 1 GDP bình quân đầu người theo giá thực tế USD ≥ 5.000 2 Tỷ trọng nông nghiệp trong GDP % ≤ 10 3 Tỷ lệ lao động nông nghiệp % 20 - 30 4 Giá trị gia tăng công nghiệp chế tạo trong GDP % 20* 5 Tỷ lệ đô thị hóa % > 50 6 Điện sản xuất bình quân đầu người KWh 3.000 II Về phát triển xã hội 7 Chỉ số phát triển con người ≥ 0,7 8 Tuổi thọ bình quân năm ≥ 73 9 Chỉ số GINI 0,32 - 0,38 10 Số bác sĩ/10.000 dân Bác sĩ ≥ 10 11 Lao động qua đào tạo nghề/Tổng lao động xã hội % > 55 12 Sử dụng Internet/dân số % > 35 III Về môi trƣờng 13 Sử dụng nước sạch/dân số % 100 14 Độ che phủ rừng % ≥ 42 15 Giảm mức phát thải nhà kính bình quân năm % 1,5 - 2 Nguồn: [87] Bộ chỉ tiêu nước CNH do tác giả Cao Viết Sinh đề xuất gồm 15 chỉ tiêu chủ yếu phản ánh toàn diện cả về KTXH và môi trường của đất nước. Tuy nhiên trong bộ chỉ tiêu đã có chỉ số HDI thì không cần thiết đưa thêm vào chỉ tiêu "Tuổi thọ bình quân"; đề xuất chỉ tiêu "Tuổi thọ bình quân ≥ 73" là thấp so với thực tế hiện nay. Tác giả Lưu Bích Hồ đề xuất bộ chỉ tiêu nước công nghiệp theo hướng hiện đại (Bảng 1.
Bộ tiêu chí do Lưu Bích Hồ đề xuất TT Tiêu chí Đơn vị tính Số lƣợng Về kinh tế 1 GDP bình quân đầu người PPP USD 6.000 2 Cơ cấu ngành - Công nghiệp và dịch vụ % 85 - 90 - Nông nghiệp % 10 - 15 3 Giá trị sản phẩm công nghiệp công nghệ cao/GDP % 45 - 50 4 Tỷ lệ lao động nông nghiệp/Lao động xã hội % 30 5 Chỉ số kinh tế tri thức (KEI; thang điểm 10) Điểm 6,0 - 7,0 6 Mức độ đô thị hóa % 60 Về văn hóa - xã hội 7 Chỉ số phát triển con người (HDI; thang điểm 1,0) > 0,7 8 Phổ cập trung học phổ thông, sau đó vào đại học, cao đẳng % > 60 9 Tỷ lệ lao động qua đào tạo % > 60 10 Tuổi thọ bình quân Năm > 75 11 Sử dụng Internet/dân số % > 50 12 Hệ số GINI < 0,3 13 Độ minh bạch, không tham nhũng Tốp 20 thế giới Về môi trường 14 Dân cư sử dụng nước sạch % 100 15 Độ che phủ rừng % 45 16 Xử lý chất thải Hầu hết Nguồn: [87] Bộ chỉ tiêu nước công nghiệp theo hướng hiện đại do tác giả Lưu Bích Hồ đề xuất gồm hầu hết các chỉ tiêu chủ yếu, phản ánh toàn diện cả về kinh tế, xã hội và môi trường của cả nước.