CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU 1.1 SỰ CẦN THIẾT NGHIÊN CỨU: Theo thống kê của cơ quan chuyên môn, hàng năm sản lượng ca cao cung cấp cho thị trường thế giới khoảng 3,5 triệu tấn hạt, nhu cầu tiêu thụ hàng năm tăng từ 3-5% (Sở NN&PTNT Bến Tre, 2011). Trong năm 2010 do bất ổn chính trị ở Châu Phi và đốn bỏ ca cao để trồng cọ lấy dầu ở Malaysia đã làm cho sản lượng ca cao giảm đáng kể. Trong khi đó nhu cầu tiêu thụ ca cao trên thế giới cao, đặc biệt các nước ở châu Á (Bộ NN&PTNT, 2014). Theo ICCO (2015) dự báo, sản lượng ca cao thế giới đến năm 2020 có thể thâm hụt lên đến 200.000 tấn do nhu cầu tăng cộng với sự sụt giảm về sản lượng của các nước có thế mạnh như Bờ Biển Ngà, Ghana và các nước trồng ca cao ở châu Á, đặc biệt là Indonesia.
Theo ước tính của các chuyên gia, chỉ riêng Trung Quốc, Ấn Độ, Indonesia đã chiếm 2,8 tỉ người và sức tiêu thụ sô cô la của riêng 3 nước này bình quân 0,06 kg/người/năm. Đó là chưa kể Nhật Bản, nước tiêu thụ sô cô la lớn nhất châu Á với mức 1,8 kg/người/năm. Châu Á sẽ dần trở thành thị trường lớn nhất tiêu thụ sô cô la trong tương lai (D. Đây là cơ hội cho Việt Nam xuất khẩu ca cao ra thị trường thế giới.
Xác định được nhu cầu thị trường về ca cao ngày càng tăng, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã quy hoạch đến năm 2020, cả nước trồng mới 50.000 ha, trong đó diện tích ca cao cho trái tăng lên 38.500 ha, sản lượng tăng lên 45.700 tấn hạt ca cao khô ủ lên men, với tổng giá trị xuất khẩu đạt từ 60 đến 70 triệu USD (Bộ NN&PTNT, 2012). Trong đó địa bàn phát triển trọng tâm là Đông Nam Bộ, Tây Nguyên và đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL). Ban điều phối ca cao quốc gia đã phối hợp với Cục Trồng trọt xây dựng, đề xuất với Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn trình Chính phủ một số chính sách như hỗ trợ trồng xen ca cao với một số cây trồng khác; lộ trình áp dụng mức thuế xuất nhập khẩu hạt và các sản phẩm ca cao phù hợp với các cam kết của khu vực; xây dựng tiêu chuẩn chất lượng hạt ca cao khô; chính sách khuyến khích đầu tư đổi mới công nghệ chế biến, đa dạng hoá sản phẩm để nâng cao chất lượng và giá trị gia tăng nhằm phát triển ca cao ở Việt Nam bền vững (Bộ NN&PTNT, 2014). Đồng Bằng Sông Cửu Long là nơi tập trung rất nhiều loại đặc sản cây ăn trái, nhất là ở các tỉnh Tiền Giang, Bến Tre, Vĩnh Long nhưng diện tích đất trồng ngày càng giảm do nhu cầu xã hội như xây dựng nhà ở, đường xá, cầu cống… từ đó mô hình trồng xen cây ăn trái với các cây khác để đảm bảo thu nhập người dân tăng bắt đầu xuất hiện.
Trong đó cây thích hợp để trồng xen nhất đó là cây ca cao bởi vì cây này là loại thực vật thích bóng râm (Phạm Hồng Đức Phước, 2009) nên thích hợp trồng dưới những tán lá dừa. 1 Bến tre là một trong các tỉnh có diện tích trồng dừa lớn nhất Đồng Bằng Sông Cửu Long và tập trung nhiều ở 4 huyện: Châu Thành, Giồng Trôm, Mỏ Cày Bắc và Mỏ Cày Nam. Cây dừa từ lâu đã được xem là cây của cuộc sống của người dân quê hương Đồng Khởi nói riêng và người dân Bến Tre nói chung. Tuy nhiên, giá trị kinh tế hiện nay của cây dừa vẫn còn bấp bênh do khâu đầu ra của các sản phẩm làm từ dừa có giá trị kinh tế còn thấp, phần lớn chỉ tiêu thụ sản phẩm thô hoặc qua sơ chế có giá trị thấp.
Từ khi các chế phẩm và sản phẩm thủ công mỹ nghệ từ dừa đưa dừa Bến Tre vượt biên giới thì thu nhập người dân nơi đây có chút cải thiện. Ngoài ra, nông dân nơi đây còn trồng xen, nuôi xen để tăng thêm thu nhập. Dừa xen cây có múi, dừa xen chuối và cách nay đúng 16 năm, ca cao xen dừa trở thành mô hình mẫu và trồng tại Bến Tre. Chỉ với 190 ha đầu tiên trồng thử nghiệm tại xã An Khánh (Châu Thành) vào năm 2000 thì đến năm 2007, Bến Tre lập hẳn dự án phát triển 10.000 ha ca cao phục vụ xuất khẩu.
Đến cuối năm 2012 diện tích ca cao trồng xen của tỉnh đã đạt con số 8.243 ha (Cục thống kê tỉnh Bến Tre, 2013), tập trung nhiều ở các huyện Châu Thành, Giồng Trôm, Mỏ Cày Bắc, Mỏ Cày Nam. Tuy nhiên, năm 2013 diện tích ca cao của toàn tỉnh giảm xuống còn 5.211 ha (Cục thống kê tỉnh Bến Tre, 2014), tức giảm 3.032 ha (tương ứng giảm 37%) so với năm 2012 đó là vấn đề báo động cần quan tâm tìm hiểu nguyên nhân của nó. Việc trồng cây ca cao xen với một số loại cây trồng khác nhất là xen trong vườn dừa thì rất lý tưởng, góp phần tăng thu nhập trên cùng một đơn vị diện tích, góp phần giải quyết ngày công lao động nhàn rỗi ở nông thôn và tạo nguồn nguyên liệu phục vụ công nghiệp chế biến và xuất khẩu. Được sự hỗ trợ của Bộ Nông Nghiệp và Phát triển nông thôn, trường Đại Học Nông Lâm TPHCM, sự quan tâm của các doanh nghiệp đầu tư sản xuất và thu mua sản phẩm, với các đề tài nghiên cứu từ các trường đại học trên khắp cả nước, Bến Tre đã đạt được sự thành công trong việc áp dụng mô hình trồng ca cao trên đất vườn dừa và vườn cây ăn trái, chất lượng ca cao được các nhà phân tích nước ngoài đánh giá khá cao trên thế giới.
Đây chỉ là sự thành công bước đầu xây dựng, người dân Bến Tre đang đối mặc với nhiều khó khăn có thể trực tiếp gây ảnh hưởng đến thương hiệu ca cao Việt Nam, các nhân tố tự nhiên từ sự biến đổi khí hậu, tình hình sâu bệnh hại, sự nắm bắt hiểu biết về khoa học kỹ thuật của nông hộ còn hạn chế, sản xuất nhỏ lẻ, manh mún, giá cả thì không ổn định, sự cạnh tranh chạy theo lợi nhuận của các công ty thu mua ca cao dẫn đến nông hộ cung cấp trái tươi chưa đủ độ chín là các vấn đề cần đặc biệt quan tâm để có thể xây dựng dự án trồng ca cao một cách bền vững. Tuy nhiên, để phát triển một ngành hàng ca cao, chúng ta không thể chỉ đơn thuần tìm hiểu một hoặc một vài đối tượng trong ngành hàng mà phải tìm hiểu cả một hệ thống chuỗi giá trị của nó. Trong đó tác nhân quan trọng nhất 2 trong chuỗi phải kể đến là người trồng ca cao. Bởi vì họ là người tạo ra sản phẩm chính trong chuỗi.
Để ngành hàng này vượt qua những trở ngại nhằm vươn đến sự phát triển bền vững, góp phần vào tăng thêm thu nhập cho nông hộ để từ đó nông hộ tiếp tục giữ nguyên diện tích hoặc mở rộng sản xuất nên cần thiết phải nghiên cứu các tác nhân trong chuỗi từ khâu trồng trọt, đến người thu mua, nhà máy chế biến, công ty sản xuất và xuất khẩu.Thông qua đó, ta biết được phân phối chi phí và lợi ích của từng tác nhân trong chuỗi, từ đó tìm ra những giải pháp, chiến lược phù hợp nhằm nâng cao chuỗi giá trị ngành hàng ca cao ở Bến tre. Do đó, thực hiện đề tài “Chiến lược nâng cấp chuỗi giá trị ngành hàng ca cao tỉnh Bến Tre” là hết sức cần thiết.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU: 1.1 Mục tiêu chung: Phân tích chuỗi giá trị ngành hàng ca cao, phân tích hiệu quả sản xuất ca cao và đề xuất các chiến lược nâng cấp chuỗi giá trị ngành hàng ca cao ở Bến Tre.2 Mục Tiêu Cụ thể: Mục tiêu 1: Phân tích thị trường ca cao trong và ngoài nước. Mục tiêu 2: Phân tích thực trạng sản xuất và tiêu thụ ca cao ở Bến Tre. Mục tiêu 3: Phân tích chuỗi giá trị ngành hàng ca cao tỉnh Bến Tre.
Mục tiêu 4: Đề xuất các chiến lược nâng cấp chuỗi giá trị ngành hàng ca cao ở Bến Tre nhằm gia tăng thu nhập cho các tác nhân tham gia chuỗi.3 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU VÀ GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU: 1.1 Câu hỏi nghiên cứu -Tình hình sản xuất và thị trường ca cao trong và ngoài nước như thế nào? - Dòng chảy xuôi của sản phẩm ca cao như thế nào? Tác nhân nào tham gia trong chuỗi giá trị ca cao? Vai trò và chức năng của họ ra sao? - Kinh tế chuỗi giá trị ra sao? - Phân phối lợi ích giữa các tác nhân tham gia trong chuỗi giá trị như thế nào? - Cần có chiến lược gì để nâng cấp chuỗi giá trị ngành hàng ca cao tỉnh Bến Tre? 1.2 Giả thuyết nghiên cứu: - Phân phối GTGT không có sự khác biệt giữa các tác nhân tham gia trong chuỗi. 3 - Phân phối GTGT thuần (lợi nhuận) không có sự khác biệt giữa các tác nhân tham gia trong chuỗi.4 PHẠM VI NGHIÊN CỨU: 1.1 Phạm vi về không gian: - Địa bàn nghiên cứu được chọn theo hai tiêu chí là diện tích và sản lượng. Theo số liệu từ Cục thống kê tỉnh Bến Tre (2014) đến hết năm 2013 diện tích ca cao toàn tỉnh Bến Tre là 5.211 ha và sản lượng ca cao thu hoạch năm 2013 là 20. Trong đó 4 huyện có diện tích và sản lượng ca cao nhiều nhất tính đến năm 2013 được chọn nghiên cứu là Châu Thành (diện tích 1.659ha, sản lượng 10.468 tấn), Giồng Trôm (diện tích 615ha, sản lượng 3.493 tấn), Mỏ Cày Nam (diện tích 1.216ha, sản lượng 3.265 tấn) và Mỏ Cày Bắc (diện tích 1.027ha, sản lượng 2.
Đây là 4 huyện có diện tích ca cao chiếm gần 90% diện tích ca cao toàn tỉnh và sản lượng chiếm hơn 94% sản lượng ca cao của toàn tỉnh.2 Phạm vi về thời gian: - Số liệu thứ cấp được sử dụng trong đề tài là số liệu từ năm 2011 đến 2013. - Số liệu sơ cấp sử dụng trong đề tài là số liệu phỏng vấn trực tiếp các tác nhân và các nhà hỗ trợ chuỗi, các chuyên gia năm 2014. - Đề tài được thực hiện từ tháng 11/2011 đến 10/2016.3 Phạm vi về nội dung: Đề tài sẽ nghiên cứu các tác nhân liên quan từ sản xuất đến tiêu thụ ca cao ở Bến Tre, tập trung vào phân tích kinh tế chuỗi và các chiến lược nâng cấp chuỗi. Trong phân tích chuỗi giá trị đề tài chưa tiến hành phân tích lợi thế cạnh tranh vì không có thông tin về đối thủ cạnh tranh.5 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU: Mục tiêu 1: Phân tích thị trường ca cao trong và ngoài nước.