CHƯƠNG I NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CẠNH TRANH VÀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH DỊCH VỤ BÁN LẺ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TRONG NỀN KINH TẾ THI TRƯỜNG 1. Khái niệm, lý thuyết liên quan đến cạnh tranh và năng lực cạnh tranh dịch vụ bán lẻ của ngân hàng thương mại. Cạnh tranh và năng lực cạnh tranh 1. Cạnh tranh là gì Cạnh tranh là một hiện tượng vốn có của thị trường, nó xuất hiện và hình thành gắn liền với sự hình thành và phát triển của nền sản xuất hàng hóa.
Bất kỳ doanh nghiệp nào trong khi tham gia vào thị trường đều phải cạnh tranh để tồn tại và phát triển. Theo kinh tế học thì cạnh tranh là sự ganh đua giữa các nhà kinh doanh trong việc giành một nhân tố sản xuất hoặc khách hàng nhằm nâng cao vị thế của mình trên thị trường. Theo từ điển bách khoa Việt Nam thì cạnh tranh được định nghĩa là hoạt động ganh đua giữa những người sản xuất hàng hóa, giữa các thương nhân, các nhà kinh doanh bị chi phối bởi quan hệ cung cầu, nhằm giành các điều kiện sản xuất, tiêu thụ và thị trường có lợi nhất. Các hình thức cạnh tranh Dựa vào hình thái cạnh tranh: cạnh tranh được chia làm cạnh tranh hoàn hảo và cạnh tranh không hoàn hảo Cạnh tranh hoàn hảo là việc các doanh nghiệp tự do cạnh tranh nhau trên thị trường cạnh tranh hoàn hảo.
Cạnh tranh hoàn hảo có những đặc điểm sau: - Có rất nhiều người mua và người bán trên thì trường vì vậy một hoặc một số doanh nghiệp không thể gây ảnh hưởng đến giá trị thị trường, giá cả chỉ phụ thuộc vào quan hệ cung cầu. - Sản phẩm đồng nhất: người mua không quan tâm đến việc mua hàng hóa của ai, 6 họ cho rằng hàng hóa của những người bán khác nhau là giống nhau. - Thông tin đầy đủ: tất cả người mua và người bán đều có đầy đủ thông tin về giá cả, lượng cung ứng, lượng cầu, hàng hóa thay thế… đảm bảo cho mọi người mua và người bán đều mua và bán theo cùng một mức giá. - Không có trở ngại đối với việc gia nhập hay rút lui khỏi thị trường Cạnh tranh không hoàn hảo: là việc các doanh nghiệp cùng cạnh tranh nhau trên thị trường cạnh tranh không hoàn hảo.
Thị trường cạnh tranh không hoàn hảo là thị trường vi phạm một trong những điều kiện của thị trường cạnh tranh hoàn hảo. Các dạng của thị trường cạnh tranh không hoàn hảo: - Cạnh tranh độc quyền: là việc các doanh nghiệp cùng bán một loại sản phẩm nhất định nhưng sản phẩm của mỗi doanh nghiệp ít nhiều có sự phân biệt nhất định đối với người tiêu dùng. - Độc quyền nhóm: là loại độc quyền xảy ra trong ngành có một số ít nhà sản xuất, mỗi người đều nhận thức được giá cả sản phẩm của mình không chỉ phụ thuộc vào sản lượng của mình mà còn phụ thuộc vào hoạt động của các đối thủ cạnh tranh trong ngành đó. - Độc quyền tuyệt đối: là loại độc quyền mà chỉ có duy nhất một doanh nghiệp tồn tại trên thị trường, giá cả và số lượng đều do doanh nghiệp này quyết định.
Dựa vào mục tiêu kinh tế của các chủ thể trong cạnh tranh: cạnh tranh được chia làm cạnh tranh dọc và cạnh tranh ngang Cạnh tranh dọc là cạnh tranh giữa các doanh nghiệp có mức phí bình quân thấp nhất khác nhau. Cạnh tranh dọc chỉ ra rằng sự thay đổi giá bán và lượng bán nói trên của các doanh nghiệp sẽ có điểm dừng, sau một thời gian nhất định sẽ hình thanh một giá thị trường thống nhất. Cạnh tranh dọc sẽ làm cho các doanh nghiệp có chi phí bình quân cao hơn sẽ bị phá sản, còn doanh nghiệp có mức phí bình quân thấp nhất sẽ thu được lợi nhuận cao hơn. Cạnh tranh ngang: là cạnh tranh giữa các doanh nghiệp có mức phí bình quân thấp nhất như nhau.
Do đặc điểm này trong cạnh tranh ngang không có doanh nghiệp nào bị loại ra khỏi thị trường, song giá cả ở mức thấp tối đa lợi nhuận giảm 7 dần và có thể không có lợi nhuận. Để hạn chế bất lợi này các doanh nghiệp độc quyền ngang phải thống nhất với nhau bán giá cao, giảm lượng bán trên thị trường hoặc các doanh nghiệp phải tìm cách giảm chi phí, tức là chuyển từ cạnh tranh ngang sang cạnh tranh dọc nhằm đứng vững trên thị trường. Dựa vào phạm vi: cạnh tranh chia ra cạnh tranh nội địa và cạnh tranh quốc tế + Cạnh tranh nội địa là cạnh tranh giữa các doanh nghiệp cùng quốc gia trên thị trường nội địa mà ở đó không có sự tham gia của các doanh nghiệp nước ngoài. Cạnh tranh nội địa bao gồm: cạnh tranh nội bộ ngành, cạnh tranh giữa các ngành, cạnh tranh giữa các khu vực địa lý trong nước.
+ Cạnh tranh quốc tế là cạnh tranh diễn ra giữa các doanh nghiệp cùng sản xuất một loại hàng hóa trên thị trường quốc tế. Dựa vào chủ thể của quá trình cạnh tranh, cạnh tranh được chia thành cạnh tranh quốc gia và cạnh tranh doanh nghiệp + Cạnh tranh quốc gia là việc các quốc gia tham gia cùng cạnh tranh với nhau trên thị trường quốc tế để đảm bảo tăng trưởng kinh tế va gia tăng phúc lợi cho người dân cũng gia gia tăng sức mạnh quốc gia đó trên thị trường quốc tế. + Cạnh tranh doanh nghiệp là việc các doanh nghiệp cùng ganh đua với nhau trên một thị trường (thị trường nội địa hoặc thị trường quốc tế) để giành phần hơn về mình, đảm bảo gia tăng lợi nhuận, thị phần cho doanh nghiệp. Vai trò của cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường: Cạnh tranh là một tất yếu khách quan trong nền sản xuất hàng hóa, nó ra đời, tồn tại và phát triển cùng với nền sản xuất hàng hóa.
Cạnh tranh có vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế, là một trong những điều kiện cơ bản và là động lực phát triển của nền kinh tế. Cạnh tranh quyết định sự sống còn của mỗi doanh nghiệp, kết quả cạnh tranh sẽ xác định vị thế của doanh nghiệp trên thị trường. Vì vậy mỗi doanh nghiệp đều cố gắng tìm ra một chiến lược cạnh tranh phù hợp để vươn lên vị thế cao nhất. Vai trò của cạnh tranh được thể hiện ở một số điểm như sau: - Cạnh tranh đảm bảo việc điều chỉnh quan hệ cung – cầu: để có một chỗ đứng vững chắc trên thị trường và tăng thị phần, các doanh nghiệp phải không ngừng đáp 8 ứng nhu cầu ngày càng cao của người tiêu dung từ đó thỏa mãn được nhu cầu của họ.
Bên cạnh đó để giảm áp lực cạnh tranh, các doanh nghiệp cũng thường lựa chọn những ngành có ít đối thủ cạnh tranh để tham gia vào thị trường. Vì vậy mà cung – cầu trên thị trường sẽ được điều chỉnh. - Cạnh tranh giúp các doanh nghiệp giảm thiểu giá thành sản xuất: cạnh tranh về giá buộc các doanh nghiệp phải giảm thiểu chi phí sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nếu không muốn bị loại ra khỏi thị trường. Bên cạnh đó sự cạnh tranh giữa những nhà cung cấp cho phép doanh nghiệp lựa chọn được nguồn đầu vào với giá hợp lý, nguồn nhân lực chất lượng, công nghệ tiên tiến hiện đại… Do đó doanh nghiệp sẽ được giảm giá thành sản xuất, mở rộng được thị phần và tối đa hóa lợi nhuận.
- Cạnh tranh giúp các doanh nghiệp trở nên năng động: đứng trước thị trường luôn biến động, các đối thủ cạnh tranh ngày càng nhiều, nhu cầu của người tiêu dùng đa dạng làm tăng sức ép cho các doanh nghiệp phải không ngừng thay đổi, luôn luôn vận động để đưa ra những chiến lược phát triển phù hợp. - Quy luật của cạnh tranh là đào thải những thành viên yếu kém trên thị trường, duy trì và phát triển những thành viên tốt nhất có khả năng thích ứng cao. Đồng thời cạnh tranh giúp phân bổ một cách có hiệu quả mọi nguồn lực xã hội, làm tăng hiệu quả kinh tế, tăng năng suất lao động, nâng cao mức sống của người dân, tạo cơ hội cho người tiêu dùng được sử dụng những sản phẩm rẻ hơn với chất lượng tốt hơn. Vì vậy cạnh tranh hỗ trợ đắc lực cho quá trình phát triển xã hội.
Tuy nhiên bên cạnh những mặt tích cực, cạnh tranh cũng có những mặt tiêu cực. Đó là việc cạnh tranh không lành mạnh như những hành động cạnh tranh vi phạm pháp luậ hay vi phạm đạo đức, cạnh tranh làm phân hóa giàu nghèo, cạnh tranh là hủy hoại môi trường sinh thái. Bên cạnh đó cũng có những doanh nghiệp do không chịu được sức ép cạnh tranh mà dẫn đến phá sản kéo theo đó là hậu quả về mặt xã hội. Cạnh tranh còn dẫn đến độc quyền với tác hại là làm cho doanh nghiệp dễ bị rơi vào tình trạng trì trệ, làm giảm hiệu quả kinh tế xã hội.
Khả năng cạnh tranh và các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường Có rất nhiều cách hiểu khác nhau về khả năng cạnh tranh. Theo diễn đàn kinh tế thế giới (WEF), trong "Báo cáo về khả năng cạnh tranh toàn cầu", thì: "khả năng cạnh tranh được hiểu là khả năng, năng lực mà doanh nghiệp có thể duy trì vị trí của 9 nó một cách lâu dài và có ý chí trên thị trường cạnh tranh, bảo đảm thực hiện một tỷ lệ lợi nhuận ít nhất bằng tỷ lệ đòi hỏi tài trợ những mục tiêu của doanh nghiệp, đồng thời đạt được những mục tiêu của doanh nghiệp đặt ra". Khả năng cạnh tranh được phân biệt trên 3 góc độ: khả năng cạnh tranh quốc gia, khả năng cạnh tranh doanh nghiệp và khả năng cạnh tranh của sản phẩm, dịch vụ. Khả năng cạnh tranh quốc gia: đây là một trong những khái niệm phức hợp, bao gồm các yếu tố ở tầm vĩ mô đồng thời cũng bao gồm khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp trong nước.
Khả năng cạnh tranh quốc gia được định nghĩa là năng lực của một nền kinh tế đạt được tăng trưởng bền vững, thu hút được đầu tư, bảo đảm ổn kinh tế, xã hội, nâng cao đời sống của người dân. Khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp: xét theo nghĩa rộng khả năng cạnh tranh là bất kì khả năng nào giúp doanh nghiệp tăng trưởng và phát triển hay ít nhất là giữ nguyên vị trí của mình trước các đối thủ trên thị trường. Xét theo nghĩa hẹp, khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng giúp được doanh nghiệp có thể tồn tại, duy trì hay tăng thị phần, lôi kéo khách hàng trên thị trường các sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp để gia tăng giá trị tài sản và lợi nhuận cho doanh nghiệp.