CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ NGÂN HÀNG ĐIỆN TỬ TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. KHÁI QUÁT VỀ DỊCH VỤ NGÂN HÀNG VÀ DỊCH VỤ NGÂN HÀNG ĐIỆN TỬ 1. Khái quát về dịch vụ ngân hàng a. Khái niệm dịch vụ ngân hàng Cùng với quá trình phát triển của nền kinh tế, hệ thống dịch vụ ngân hàng (DVNH) đang dần được hình thành và phát triển nhằm đáp ứng nhu cầu sử dụng các dịch vụ ngày càng tăng của các chủ thể trong nền kinh tế.
Hiện nay, có nhiều khái niệm khác nhau về DVNH. Theo Tổ chức thương mại thế giới (WTO) thì: "Một dịch vụ tài chính là bất kỳ dịch vụ nào có tính chất tài chính được một nhà cung cấp dịch vụ tài chính cung cấp. Dịch vụ tài chính bao gồm dịch vụ bảo hiểm và dịch vụ liên quan tới bảo hiểm, mọi dịch vụ tài chính khác (ngoại trừ bảo hiểm) ". Điều đó có nghĩa rằng DVNH là một bộ phận cấu thành dịch vụ tài chính và trong bảng phân ngành dịch vụ của WTO, DVNH được chia thành 12 phân ngành cụ thể sau: (1) Nhận tiền gửi và các khoản tiền từ công chúng (2) Cho vay dưới mọi hình thức bao gồm: cho vay tiêu dùng, thế chấp, bao thanh toán và các khoản tài trợ cho các giao dịch thương mại khác (3) Cho thuê tài chính (4) Tất cả các khoản thanh toán và chuyển tiền, bao gồm thẻ tín dụng, thẻ ghi nợ, thẻ thanh toán, séc du lịch và hối phiếu ngân hàng (5) Bảo lãnh và cam kết thanh toán (6) Tự doanh hoặc kinh doanh tiền tài khoản của khách hàng, kể cả 7 trên thị trường tập trung, thị trường OTC hoặc các thị trường khác, các sản phẩm sau: - Các công cụ thị trường tiền tệ, bao gồm séc, hối phiếu, chứng chỉ tiền gửi - Ngoại hối - Các công cụ phái sinh bao gồm (nhưng không hạn chế) các hợp đồng giao dịch tương lai (futures) và quyền chọn (options) - Các sản phẩm dựa trên lãi suất và tỷ giá, bao gồm các sản phẩm như các hợp đồng kỳ hạn (forward) và hoán đổi (swaps) - Các chứng khoán có khả năng chuyển nhượng - Các công cụ chuyển nhượng và các tài sản tài chính khác, kể cả vàng nén (7) Phát hành các loại chứng khoán, bao gồm cả việc bảo lãnh phát hành và đại lý phát hành (cả phát hành công khai và không công khai) và cung ứng các dịch vụ liên quan đến hoạt động phát hành (8) Môi giới tiền tệ (9) Quản lý tài sản gồm quản lý tiền mặt, quản lý danh mục, tất cả các hình thức quản lý đầu tư tập thể, quản lý quỹ hưu trí, dịch vụ ủy thác, lưu ký và tín thác (10) Dịch vụ thanh toán và thanh toán bù trừ đối với các tài sản tài chính, bao gồm chứng khoán, sản phẩm phái sinh và các công cụ có thể chuyển nhượng khác (11) Cung cấp và trao đổi các thông tin tài chính, xử lý dữ liệu tài chính và phần mềm có liên quan của các nhà cung ứng của các dịch vụ tài chính khác (12) Dịch vụ tư vấn, môi giới và các dịch vụ tài chính hỗ trợ khác liên quan đến tất cả các hoạt động nói trên, bao gồm cả việc tham chiếu và phân 8 tích tín dụng, nghiên cứu, tư vấn đầu tư và đầu tư theo danh mục, tư vấn đối với các hoạt động mua lại và tái cơ cấu doanh nghiệp cũng như xây dựng chiến lược.
Ở nước ta, theo tác giả Trịnh Bá Tửu, DVNH đang được hiểu theo hai quan điểm khác nhau: "Theo nghĩa hẹp, DVNH chỉ bao gồm những hoạt động ngoài chức năng truyền thống của định chế tài chính trung gian (huy động vốn và cho vay). Theo nghĩa rộng, lĩnh vực DVNH là toàn bộ hoạt động tiền tệ, tín dụng, thanh toán, ngoại hối,. của hệ thống ngân hàng đối với doanh nghiệp và công chúng. Trong này, không bao gồm các hoạt động tự làm cho mình của các tổ chức tín dụng".
Như vậy, trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ở nước ta hiện nay, quan điểm theo nghĩa rộng là phù hợp hơn cả với cách phân ngành DVNH trong dịch vụ tài chính của WTO. Đặc điểm của dịch vụ ngân hàng Dịch vụ là một sản phẩm đặc biệt, có nhiều đặc tính khác với các loại hàng hóa khác như tính vô hình, tính không đồng nhất, tính không thể tách rời và tính không thể cất giữ. Chính những đặc điểm này làm cho dịch vụ trở nên khó định lượng và không thể nhận dạng bằng mắt thường được. Ø Tính vô hình : Không giống như sản phẩm vật chất, dịch vụ không thể nhìn thấy được, không nếm được, không nghe thấy được hay không ngửi thấy được trước khi ta mua chúng.
Để giảm bớt mức độ không chắc chắn, người mua sẽ tìm kiếm các dấu hiệu hay bằng chứng về chất lượng dịch vụ. Họ sẽ suy diễn về chất lượng dịch vụ từ địa điểm, con người, trang thiết bị, tài liệu, thông tin, biểu tượng và giá cả mà họ thấy. Ø Tính không đồng nhất : Đặc tính này còn gọi là tính khác biệt của dịch vụ. Theo đó, việc thực hiện dịch vụ thường khác nhau tùy thuộc vào cách thức phục vụ, nhà cung cấp dịch vụ, người phục vụ, thời gian thực hiện, lĩnh vực phục vụ, đối tượng phục vụ và địa điểm phục vụ.
9 Ø Tính không thể tách rời: Tính không tách rời của dịch vụ thể hiện ở việc khó phân chia dịch vụ thành hai giai đoạn rạch ròi là giai đoạn sản xuất và giai đoạn sử dụng. Dịch vụ thường được tạo ra và sử dụng đồng thời. Điều này không đúng đối với hàng hóa vật chất được sản xuất ra nhập kho, phân phối thông qua nhiều nấc trung gian mua bán, rồi sau đó mới được tiêu dùng. Đối với sản phẩm hàng hóa, khách hàng chỉ sử dụng sản phẩm ở giai đoạn cuối cùng, còn đối với dịch vụ, khách hàng đồng hành trong suốt hoặc một phần của quá trình tạo ra dịch vụ.
Ø Tính không lưu giữ được : Dịch vụ không thể cất giữ, lưu kho rồi đem bán như hàng hóa khác. Tính không lưu giữ được của dịch vụ sẽ không thành vấn đề khi mà nhu cầu ổn định. Khi nhu cầu thay đổi, các công ty dịch vụ sẽ gặp khó khăn. Vì vậy, dịch vụ là sản phẩm được sử dụng khi tạo thành và kết thúc ngay sau đó.
Phân loại các sản phẩm dịch vụ ngân hàng Sản phẩm của dịch vụ Ngân hàng thương mại (NHTM) được chi thành hai loại : DVNH truyền thống và DVNH hiện đại. Ø Dịch vụ ngân hàng truyền thống : dịch vụ huy động vốn, dịch vụ cho vay, dịch vụ thanh toán, dịch vụ truyền thống khác. Ø Dịch vụ ngân hàng hiện đại : dịch vụ thẻ, DVNH điện tử, DVNH trực tuyến, DVNH bán lẻ … d. Cấu trúc của dịch vụ ngân hàng Các chuyên gia ngân hàng cho rằng, dịch vụ ngân hàng có thể chia ra nhiều cấp độ khác nhau, mỗi cấp độ sẽ tăng thêm giá trị cho khách hàng và được dùng để tạo ra sự khác biệt so với các sản phẩm và nhãn hiệu khác của đối thủ cạnh tranh.
Trên cơ sở các cấp độ này mà các ngân hàng sẽ tiến hành các hoạt động marketing khác nhau để khai thác hiệu quả sản phẩm của mình. Theo truyền thống, sản phẩm ngân hàng được cho thành ba cấp độ : 10 Ø Sản phẩm cơ bản: Là cấp độ cốt lõi và quan trọng nhất của một sản phẩm. Đây là cấp độ liên quan đến lợi ích cơ bản mà sản phẩm được giả định sẽ cung cấp hoặc thực sự cung cấp để thoả mãn các nhu cầu sản phẩm tài chính- ngân hàng của khách hàng như khả năng rút tiền mặt, chuyển tiền, vay trả góp. Ø Sản phẩm thực: Là cấp độ thứ hai của sản phẩm chứa đựng trong nó nội hàm của sản phẩm cơ bản cùng các thuộc tính cụ thể hình thành nên “sản phẩm” mà khách hàng đang muốn sử dụng: gồm sản phẩm (điều kiện, điều khoản, lãi suất, các yêu cầu luật định) và các yếu tố cần thiết khác (giấy đề nghị, màu sắc của thẻ.
Ø Sản phẩm gia tăng: Là cấp độ thứ ba của sản phẩm, nhắm đến việc thoả mãn, đáp ứng tốt hơn sự mong đợi của khách hàng khi sử dụng sản phẩm và dịch vụ do ngân hàng cung cấp… Cấp độ 3 của sản phẩm được gọi là các hệ thống hỗ trợ phục vụ khách hàng bao gồm thời gian xử lí hồ sơ, giấy tờ, giờ mở cửa hoạt động, các tiện nghi trong phòng đợi, sự giúp đỡ thân thiện của nhân viên ngân hàng,… Tuy nhiên, theo Philip Kotler, một chuyên gia marketing hàng đầu thế giới lại cho rằng một sản phẩm ngoài ba cấp độ nói trên có thể bổ sung thêm hai cấp độ nữa là sản phẩm kỳ vọng và sản phẩm tiềm năng. Ø Sản phẩm kỳ vọng : gồm toàn bộ các thuộc tính và điều kiện mà khách hàng mong đợi sẽ nhận được từ sản phẩm và các ngân hàng cũng thường ghi trong các quy định về điều kiện và điều khoản của hợp đồng. Các yếu tố này sẽ tạo nên yêu cầu tối thiểu về sản phẩm mà khách hàng mong sẽ nhận được. Ø Sản phẩm tiềm năng : bao gồm mọi yếu tố có thể đưa thêm vào sản phẩm và khả năng biến đổi của sản phẩm trong tương lai nhằm nỗ lực làm cho khách hàng của mình ngạc nhiên bằng cách không phải chỉ đạt mà còn 11 vượt quá sự mong đợi của khách hàng và thông qua đó tạo nên sự khác biệt giữa các ngân hàng.
Khái niệm và bản chất của dịch vụ ngân hàng điện tử (NHĐT) Dịch vụ thương mại điện tử đã và đang phát triển mạnh mẽ trong những năm gần đây và trở thành đề tài nóng hổi trong bất kỳ hội thảo nào về công nghệ thông tin. Việc chuyển đổi sang nền kinh tế mạng đang diễn ra với tốc độ nhanh hơn hầu hết mọi dự tính. Thương mại điện tử tạo nên một hình thức cạnh tranh mới để tiếp cận khách hàng và từ đó làm nảy sinh nên một hình thức cạnh tranh mới buộc các ngân hàng phải nỗ lực trong việc cung cấp những sản phẩm mà khách hàng cần, quyết định đầu tư về cơ sở vật chất, trình độ công nghệ trước áp lực cạnh tranh. Ngân hàng nào giải quyết tốt những vấn đề này sẽ mở rộng ảnh hưởng của mình đối với thị trường.
Với những yêu cầu đó, các ngân hàng đã cho ra đời hàng loạt các sản phẩm dịch vụ mới rất tiện lợi và có sức lôi cuốn khách hàng rất lớn. Tuy nhiên, hiện nay vẫn có một số quan điểm không đồng nhất giữa dịch vụ Internet banking với dịch vụ E-banking.