Luận văn nâng cao hả năng cạnh tranh sản phẩm đ của công ty cổ phần thương mại sản xuất và xuất nhập hẩu hưng thịnh trên thị trường miền bắ

Luận văn phân tích chiến lược nâng cao khả năng cạnh tranh sản phẩm của Công ty CP TM SX & XNK Hưng Thịnh trên thị trường miền Bắc.

Trường đại học

Đại học Thương Mại

Chuyên ngành

Kinh tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2017

59
3
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

1. CHƯƠNG 1: MỘT LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CẠNH TRANH VÀ NÂNG CAO KHẢ NĂNG CẠNH TRANH SẢN PHẨM ĐÁ CỦA DOANH NGHIỆP

1.1. Một số khái niệm cơ bản

1.2. Khái niệm về cạnh tranh

1.3. Nâng cao khả năng cạnh tranh

1.4. Một số lý thuyết nâng cao khả năng cạnh tranh sản phẩm đá của doanh nghiệp

1.5. Bản chất của nâng cao khả năng cạnh tranh sản phẩm đá

1.6. Vai trò của nâng cao khả năng cạnh tranh sản phẩm đá

1.7. Các nhân tố ảnh hưởng đến nâng cao khả năng cạnh tranh sản phẩm đá

1.8. Một số chỉ tiêu đánh giá khả năng cạnh tranh sản phẩm đá

1.9. Nội dung nâng cao khả năng cạnh tranh sản phẩm đá

1.10. Yêu cầu nâng cao khả năng cạnh tranh sản phẩm đá

1.11. Một số chính sách nâng cao khả năng cạnh tranh sản phẩm đá

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG NÂNG CAO KHẢ NĂNG CẠNH TRANH SẢN PHẨM ĐÁ CỦA CÔNG TY CP TMSX VÀ XNK HƯNG THỊNH TRÊN THỊ TRƯỜNG MIỀN BẮC

2.1. Tổng quan tình hình và các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của sản phẩm đá

2.2. Giới thiệu chung về công ty

2.3. Kết quả hoạt động kinh doanh của công ty giai đoạn 2014-2017

2.4. Thực trạng nâng cao khả năng cạnh tranh sản phẩm đá của công ty CP TMSX và XNK Hưng Thịnh trên thị trường miền Bắc

2.5. Chỉ tiêu về doanh thu

2.6. Chỉ tiêu về thị phần của doanh nghiệp

2.7. Chỉ tiêu về giá cả và chất lượng sản phẩm

2.8. Những kết luận về nâng cao khả năng cạnh tranh sản phẩm đá công ty CP TMSX và XNK Hưng Thịnh

2.9. Những thành công đã đạt được

2.10. Những hạn chế và nguyên nhân hạn chế

3. CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CAO KHẢ NĂNG CẠNH TRANH SẢN PHẨM ĐÁ CỦA CÔNG TY TMSX VÀ XNK HƯNG THỊNH

3.1. Quan điểm nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm đá của công ty CP TMSX và XNK Hưng Thịnh

3.2. Nhóm giải pháp nâng cao khả năng cạnh tranh của công ty CPTM và XNK Hưng Thịnh

3.3. Nhóm giải pháp duy trì khả năng cạnh tranh của công ty

3.4. Nhóm giải pháp tạo nên khả năng cạnh tranh của công ty

3.5. Một số kiến nghị, đề xuất

3.6. Xây dựng một chiến lược kinh doanh phù hợp với doanh nghiệp

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Chiến lược cạnh tranh

Chiến lược cạnh tranh là yếu tố then chốt giúp Công ty CP TM SX & XNK Hưng Thịnh duy trì và phát triển vị thế trên thị trường miền Bắc. Bài viết phân tích các chiến lược cụ thể như chiến lược giá, chiến lược phân phối, và chiến lược marketing nhằm tối ưu hóa hiệu quả kinh doanh. Các chiến lược này được xây dựng dựa trên việc phân tích thị trường và hiểu rõ nhu cầu thị trường, giúp công ty đối phó hiệu quả với đối thủ cạnh tranh.

1.1. Chiến lược giá

Chiến lược giá của Công ty CP TM SX & XNK Hưng Thịnh tập trung vào việc cân bằng giữa chất lượng và giá cả để thu hút khách hàng. Công ty áp dụng mô hình giá cạnh tranh, đảm bảo giá cả phù hợp với thị trường tiêu thụ miền Bắc. Điều này giúp công ty duy trì khả năng cạnh tranh và tăng doanh thu.

1.2. Chiến lược phân phối

Chiến lược phân phối được thiết kế để tối ưu hóa mạng lưới phân phối, đảm bảo sản phẩm tiếp cận nhanh chóng đến khách hàng. Công ty tập trung vào việc mở rộng kênh phân phối và hợp tác với các đối tác chiến lược, giúp tăng cường sức cạnh tranh trên thị trường miền Bắc.

II. Khả năng cạnh tranh

Khả năng cạnh tranh của Công ty CP TM SX & XNK Hưng Thịnh được đánh giá qua các chỉ tiêu như doanh thu, thị phần, và chất lượng sản phẩm. Bài viết nhấn mạnh tầm quan trọng của việc nâng cao khả năng cạnh tranh thông qua việc cải tiến sản phẩm và tối ưu hóa quy trình sản xuất. Điều này giúp công ty không chỉ duy trì mà còn mở rộng thị trường tiêu thụ.

2.1. Đánh giá thị phần

Thị phần của công ty được đánh giá qua việc phân tích doanh thuphân khúc thị trường. Công ty đã đạt được những thành công nhất định trong việc chiếm lĩnh thị trường miền Bắc, nhưng vẫn cần cải thiện để đối phó với đối thủ cạnh tranh mạnh hơn.

2.2. Chất lượng sản phẩm

Chất lượng sản phẩm là yếu tố quan trọng giúp công ty duy trì khả năng cạnh tranh. Công ty đã đầu tư vào công nghệ và quy trình sản xuất để đảm bảo sản phẩm đáp ứng nhu cầu thị trường và vượt trội so với đối thủ.

III. Phát triển sản phẩm

Phát triển sản phẩm là chiến lược trọng tâm giúp Công ty CP TM SX & XNK Hưng Thịnh tăng khả năng cạnh tranh. Bài viết phân tích quá trình nghiên cứu và phát triển sản phẩm mới, đáp ứng nhu cầu thị trường và xu hướng tiêu dùng. Công ty cũng chú trọng vào việc định vị thương hiệu để tạo sự khác biệt so với đối thủ cạnh tranh.

3.1. Nghiên cứu thị trường

Nghiên cứu thị trường là bước đầu tiên trong quá trình phát triển sản phẩm. Công ty đã tiến hành phân tích nhu cầu thị trường và xu hướng tiêu dùng để thiết kế sản phẩm phù hợp, giúp tăng khả năng cạnh tranh.

3.2. Định vị thương hiệu

Định vị thương hiệu giúp công ty tạo sự khác biệt và thu hút khách hàng. Công ty đã xây dựng chiến lược định vị dựa trên chất lượng và giá trị sản phẩm, giúp tăng sức cạnh tranh trên thị trường miền Bắc.

13/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: MỘT LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CẠNH TRANH VÀ NÂNG CAO KHẢ NĂNG CẠNH TRANH SẢN PHẨM ĐÁ CỦA DOANH NGHIỆP 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm về cạnh tranh Trong sự phát triển của nền kinh tế thị trường Việt Nam hiện nay, các khái niệm liên quan đến cạnh tranh còn rất khác nhau. Theo Mác: “Cạnh tranh là sự ganh đua, đấu tranh gay gắt giữa các nhà tư bản nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu dùng hàng hóa để thu được lợi nhuận siêu ngạch”.

Nghiên cứu sâu về sản xuất hàng hóa tư bản chủ nghĩa và cạnh tranh tư bản chủ nghĩa Mác đã phát hiện ra quy luật cơ bản của cạnh tranh tư bản chủ nghĩa là quy luật điều chỉnh tỷ suất lợi nhuận bình quân và qua đó hình thành nên hệ thống giá cả thị trường. Quy luật này dựa trên sự chênh lệch giữa giá cả chi phí sản xuất và khả năng có thể bán hàng hóa dưới giá trị của nó nhưng vẫn thu được lợi nhuận. Theo từ điển kinh doanh (xuất bản năm 1992 ở Anh) thì cạnh tranh trong cơ chế thị trường được định nghĩa là “Sự ganh đua, sự kình địch giữa các nhà kinh doanh nhằm giành tài nguyên sản xuất cùng một loại hàng hóa về phía mình”. Theo kinh tế chính trị học: “Cạnh tranh là sự thôn tính lẫn nhau giữa các đối thủ nhằm giành lấy thị trường, khách hàng cho doanh nghiệp mình.” Có quan niệm khác lại cho rằng: “Cạnh tranh là sự phấn đấu về chất lượng sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp mình sao cho tốt hơn các doanh nghiệp khác.” Các khái niệm canh tranh kể trên đều chưa thực sự đầy đủ.

Ngoài ra, ở mỗi thời kỳ lịch sử khác nhau thì quan niệm và nhận thức về cạnh tranh là khác nhau và phạm vi cũng như cấp độ cũng khác nhau. Ở Việt Nam, khi đề cập đến “cạnh tranh” người ta thường đề cập đến vấn đề giành lợi thế về giá cả hàng hóa, dịch vụ mua bán và đó là phương thức để giành lợi nhuận cao cho các chủ thể kinh tế. Trên quy mô toàn xã hội, cạnh tranh là phương thức phân bổ các nguồn lực một cách tối ưu và do đó nó là động lực bên trong thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Mặt khác, với mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận của các chủ thể kinh doanh, cạnh tranh cũng dẫn đến yếu tố thúc đẩy quá trình tích lũy và tập trung tư bản không đồng đều ở các doanh nghiệp.

Mặc dù còn nhiều khái niệm khác nhau về cạnh tranh, qua các định nghĩa trên có thể rút ra những nét chung về cạnh tranh như sau: 6 Thứ nhất, khi nói đến cạnh tranh là nói đến sự ganh đua giữa một (hoặc một nhóm) người nhằm giành lấy phần thắng của nhiều chủ thể cùng tham dự. Cạnh tranh nâng cao vị thế của người này và làm giảm vị thế của những người còn lại. Thứ hai, mục đích trực tiếp của cạnh tranh là một đối tượng cụ thể nào đó mà các bên đều muốn giành giật (như một cơ hội, một sản phẩm dịch vụ, một dự án hay một thị trường, một nhóm khách hàng…) với mục đích cuối cùng là kiếm được lợi nhuận cao. Thứ ba, cạnh tranh diễn ra trong một môi trường cụ thể, có các ràng buộc chung mà các bên tham gia phải tuân thủ như: đặc điểm sản phẩm, thị trường, các điều kiện pháp lý, các thông lệ kinh doanh… Thứ tư, trong quá trình cạnh tranh, các chủ thể tham gia cạnh tranh có thể sử dụng nhiều công cụ khác nhau: cạnh tranh bằng đặc tính và chất lượng sản phẩm dịch vụ, cạnh tranh bằng giá bán sản phẩm dịch vụ; cạnh tranh bằng nghệ thuật tiêu thụ sản phẩm (tổ chức các kênh tiêu thụ); cạnh tranh bằng dịch vụ bán hàng; cạnh tranh bằng hình thức thanh toán… Đúc kết từ những quan điểm trên, xem xét dưới góc độ kinh tế và góc độ doanh nghiệp: Cạnh tranh là sự ganh đua giữa các tổ chức (doanh nghiệp) cố gắng để đạt được những mục tiêu như tăng lợi nhuận, thị phần, và khối lượng bán hàng bằng cách thay đổi các yếu tố hỗn hợp: giá cả, sản phẩm, phân phối và xúc tiến thông qua việc thực hiện phân bổ một cách hiệu quả nguồn lực của tổ chức (doanh nghiệp).

* Phân loại cạnh tranh: - Căn cứ vào chủ thể tham gia thị trường Cạnh tranh giữa người mua và người bán Là một cạnh tranh diễn ra theo quy luật mua rẻ-bán đắt. Trên thị trường người bán muốn bán sản phẩm của mình với giá cao nhất, người mua thì ngược lại, họ lại muốn mua hàng hóa với giá thấp nhất có thể. Giá cả cuối cùng được chấp nhận là giá cả thống nhất giữa người mua và người bán sau một quá trình mặc cả với nhau. Cạnh tranh giữa người mua và người bán là cạnh tranh phổ biến trên tất cả các thị trường sản phẩm dịch vụ.

Cạnh tranh giữa người mua với nhau Là cuộc cạnh tranh dựa trên cơ sở quy luật cung cầu. Khi một hàng hóa dịch vụ nào đó mà mức cung cấp nhỏ hơn nhu cầu tiêu dùng thì cuộc cạnh tranh sẽ trở nên quyết liệt và giá dịch vụ hàng hóa đó sẽ tăng. Kết quả cuối cùng là người bán sẽ thu được lợi nhuận cao, còn người mua thì mất thêm một số tiền. Đây chính là cuộc cạnh tranh mà những người mua tự làm hại chính mình.

7 Cạnh tranh giữa người bán với nhau Là một cuộc cạnh tranh giữa các doanh nghiệp với nhau, thủ tiêu lẫn nhau để giành khách hàng và thị trường, cuộc cạnh tranh dẫn đến là giá cả giảm xuống và có lợi cho thị trường. Trong khu đó đối với những doanh nghiệp khi tham gia thị trường không chịu được sức ép thì sẽ phải bỏ thị trường, nhường thị phần của mình cho các doanh nghiệp có sức cạnh tranh mạnh hơn. - Căn cứ vào phạm vi ngành kinh tế Cạnh tranh trong nội bộ ngành Là một cuộc cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong cùng một ngành, cùng sản xuất một loại hàng hóa nhằm mục đích tiêu thụ hàng hóa có lợi hơn để thu lợi nhuận siêu ngạch bằng các biện pháp cải tiến kỹ thuật, nâng cao năng suất lao động, giảm chi phí sản xuất làm cho giá trị hàng hóa cá biệt do doanh nghiệp sản xuất ra nhỏ hơn giá trị xã hội. Kết quả cuộc cạnh tranh này làm cho kỹ thuật sản xuất phát triển hơn.

Cạnh tranh giữa các ngành Là một cuộc cạnh tranh giữa các doanh nghiệp hay đồng minh giữa các doanh nghiệp trong các ngành với nhau nhằm giành giật lợi nhuận cao nhất. Trong quá trình này xuất hiện sự phân bố vốn đầu tư một cách tự nhiên giữa các ngành khác nhau, kết quả hình thành tỷ suất lợi nhuận bình quân. - Căn cứ vào tính chất cạnh tranh Cạnh tranh lành mạnh Theo cuốn Black’s Law Dictionary, cạnh tranh lành mạnh được định nghĩa “là hình thức cạnh tranh công khai, công bằng và ngay thẳng giữa các đối thủ cạnh tranh trong kinh doanh”(Bryan A. Luôn là ước muốn của các doanh nghiệp có thái độ kinh doanh tử tế, của những nhà quản lý kinh tế, cạnh tranh lành mạnh đem lại hiệu quả tối ưu cho người tiêu dùng.

Nuôi nấng và tô vẽ các nét đẹp truyền thống văn hiến vài nghìn năm, nền kinh tế lúa nước của người Việt Nam cũng phản ánh những quan niệm về cạnh tranh lành mạnh trong hoạt động giao lưu thương mại. Những câu thành ngữ “buôn có bạn, bán có phường”, sự hình thành các trung tâm thương mại lớn như “nhất kinh kỳ, nhì phố hiến” đã cho thấy các thương nhân Việt Nam đã có thói quen yêu mến sự lành mạnh của cạnh tranh. Hiện nay, là khái niệm chỉ có ý nghĩa về mặt lý thuyết, cạnh tranh lành mạnh không phải là khái niệm luật định cho dù bất cứ đạo luật cạnh tranh nào cũng đều hướng đến xây dựng và hoàn thiện một thị trường cạnh tranh lành mạnh. Trong khoa học pháp lý, người ta cũng chưa có được bất cứ khái niệm nào về cạnh tranh lành mạnh làm vừa lòng tất cả những nhà khoa học.

Tuy nhiên, các nhà khoa học 8 cũng đã có một sự thống nhất khi đưa ra những đặc trưng của cạnh tranh lành mạnh như sau: Cạnh tranh bằng tiềm năng vốn có của doanh nghiệp; Có mục đích thu hút khách hàng; Không trái pháp luật và tập quán kinh doanh lành mạnh( PGS. Nguyễn Như Phát – Ths. Bùi Nguyên Khánh, sđd.) Cạnh tranh lành mạnh đem lại cho người tiêu dùng chất lượng sản phẩm ngày càng cao, sự đa dạng sản phẩm theo nhu cầu, giá cả hợp lý; đem lại cho đời sống kinh tế – xã hội những thành tựu phát triển của khoa học kỹ thuật, sự hợp lý trong việc sử dụng các nguồn lực kinh tế như: vốn, lao động, nguyên liệu. Đối với doanh nghiệp, cạnh tranh lành mạnh sẽ là trọng tài công bằng để lựa chọn những nhà kinh doanh có đủ năng lực, đủ bản lĩnh để tồn tại và kinh doanh hiệu quả.

Cạnh tranh không lành mạnh Điều 10 Bis Công ước Paris về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp quy định: “bất cứ hành vi cạnh tranh nào trái với các hoạt động thực tiễn, không trung thực trong lĩnh vực công nghiệp và thương mại đều bị coi là hành vi cạnh tranh không lành mạnh”. Do ra đời từ bản tính hám lợi và ganh đua của con người trong kinh doanh, cạnh tranh luôn có tính hai mặt. Dưới góc độ tích cực, cạnh tranh đem lại các lợi ích cho xã hội, cho người tiêu dùng, cho doanh nghiệp. Song, ở chừng mực nào đó, khi nhu cầu lợi nhuận thúc giục và cám dỗ con người đến với những thủ đoạn thái quá trong cạnh tranh, thì các hành vi cạnh tranh ấy trở thành nỗi ám ảnh và có thể gây ra nhiều hậu quả bất lợi cho sự phát triển, xâm hại lợi ích chính đáng của các doanh nghiệp khác, của người tiêu dùng.

Lý thuyết cạnh tranh gọi đó là những hành vi cạnh tranh không lành mạnh. Mặc dù có nhiều cố gắng, song pháp luật các nước đều không thể đưa ra được khái niệm cạnh tranh không lành mạnh có thể bao quát được mọi biểu hiện trên thực tế. Vì vậy, nếu có đưa ra khái niệm cạnh tranh không lành mạnh, pháp luật của các nước cũng phải kèm theo các quy định liệt kê từng hành vi cụ thể. Lý giải về điều này, Phó Giáo sư Nguyễn Như Phát cho rằng sức sáng tạo bất tận của các nhà kinh doanh đã làm cho phạm vi của hành vi không lành mạnh luôn thay đổi bằng sự xuất hiện của những thủ đoạn bất chính mới.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Chiến lược nâng cao khả năng cạnh tranh sản phẩm của Công ty CP TM SX & XNK Hưng Thịnh tại thị trường miền Bắc" trình bày những chiến lược cụ thể nhằm cải thiện khả năng cạnh tranh của công ty trong bối cảnh thị trường miền Bắc. Tài liệu nhấn mạnh tầm quan trọng của việc phân tích thị trường, xác định nhu cầu khách hàng và phát triển sản phẩm phù hợp. Độc giả sẽ tìm thấy những lợi ích thiết thực từ việc áp dụng các chiến lược này, bao gồm tăng cường sự hiện diện thương hiệu, nâng cao chất lượng sản phẩm và tối ưu hóa quy trình kinh doanh.

Để mở rộng thêm kiến thức về các chiến lược kinh doanh và marketing, bạn có thể tham khảo tài liệu Luận văn thạc sỹ nâng cao năng lực làm việc của nhân viên kinh doanh tại công ty tnhh chứng khoán yuanta việt nam, nơi cung cấp cái nhìn sâu sắc về việc nâng cao năng lực nhân viên trong lĩnh vực kinh doanh. Bên cạnh đó, tài liệu Tiểu luận quản trị marketing lập kế hoạch marketing cho doanh nghiệp starbuck trong năm 2023 sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về cách lập kế hoạch marketing hiệu quả cho doanh nghiệp. Cuối cùng, tài liệu Luận văn các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của công ty tnhh dlt quảng ngãi sẽ cung cấp thêm các giải pháp thực tiễn để cải thiện hiệu quả kinh doanh. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các chiến lược và giải pháp trong lĩnh vực kinh doanh hiện nay.