Chương 1:Tổng quan về vấn đề nghiên cứu Chương 2:Cơ sở lý luận về hiệu quả kinh doanh nhập khẩu Chương 3:Đánh giá hiệu quả kinh doanh nhập khẩu sản phẩm Máy làm đất từ thị trường Nhật Bản của công ty Cổ phần phát triển Máy xây dựng Việt Nam Chương 4:Định hướng phát triển và giải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh nhập khẩu sản phẩm Máy làm đất từ thị trường Nhật Bản của công ty Cổ phần phát triển Máy xây dựng Việt Nam. 5 Chương 2:CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ KINH DOANH NHẬP KHẨU 2.Lý thuyết về Nhập khẩu 2.Khái niệm “nhập khẩu” Nhập khẩu là một trong hai bộ phận cấu thành của hoạt động ngoại thương,là hoạt động kinh doanh trên phạm vi quốc tế, là quá trình trao đổi hàng hóa giữa các quốc gia dựa trên nguyên tắc trao đổi ngang giá lấy tiền tệ làm môi giới. Nó không phải là hành vi buôn bán riêng lẻ mà là một hệ thống các quan hệ buôn bán trong nền kinh tế có cả tổ chức bên trong và bên ngoài. Do đó, nhập khẩu của doanh nghiệp là hoạt động mua hàng hóa và dịch vụ từ nước ngoài phục vụ cho nhu cầu trong nước hoặc tái xuất nhằm phục vụ mặt đất thu lợi nhuận.Vậy bản chất của nhập khẩu là việc mua hàng hóa từ các tổ chức kinh tế, các công ty tổ chức nước ngoài và tiến hành tiêu thụ hàng hóa nhập khẩu tại thị trường nội địa hoặc tái xuất khẩu với mục đích thu lợi nhuận và nối liền sản xuất với tiêu dùng.
Vai trò của nhập khẩu hàng hóa Nhập khẩu là một trong hai hoạt động cấu thành ngoại thương. Nó thể hiện sự phụ thuộc lẫn nhau giữa nền kinh tế của một quốc gia với phần còn lại của thế giới. Thông qua hoạt động nhập khẩu, các quốc gia bổ sung cho nhau những hàng hóa trong nước không sản xuất được hoặc sản xuất không đủ cung cấp cho nhu cầu nội địa với chi phí thấp hơn hay cung cấp nguyên liệu cho nhu cầu sản xuất trong nước. Hiện nay thì vai trò của nhập khẩu đã trở nên vô cùng quan trọng: -Nhập khẩu tạo ra sự cạnh tranh giữa hàng nội và hàng ngoại, tạo ra động lực bắt buộc và các nhà sản xuất trong nước phải không ngừng vươn lên, tạo ra sự phát triển xã hội và sự thanh lọc các đơn vị sản xuất.
-Nhập khẩu xóa bỏ tình trạng độc quyền, phá vỡ triệt để nền kinh tế đóng, chế độ tự cấp tự túc. -Nhập khẩu giải quyết những nhu cầu đặc biệt: hàng hóa hiếm hoặc quá hiện đại mà trong nước không thể sản xuất được. -Nhập khẩu là cầu nối thông suốt nền kinh tế thị trường trong và ngoài nước khác nhau, tạo điều kiện phân công lao động và hợp tác quốc tế,phát huy được lợi thế sánh của đất nước trên cơ sở chuyên môn hóa. Đặc điểm của hoạt động nhập khẩu Nhập khẩu là hoạt động phức tạp so với hoạt động kinh doanh trong nước và có nhũng đặc điểm sau: -Hoạt động nhập khẩu cần sự điều chỉnh của nhiều nguồn luật như điều ước quốc tế và ngoại thương, luật quốc gia của các nước hữu quan, tập quán TMQT.
-Các phương thức thanh toán rất đa dạng: nhờ thu, hàng đổi hàng, L/C… -Tiền tệ dùng trong thanh toán thường là ngoại tệ có sức chuyển đổi cao như:USD, Euro, Bảng Anh… -Điều kiện cơ sở giao hàng: có nhiều hình thức nhưng phổ biến là theo điều kiện CIF, FOB… -Kinh doanh nhập khẩu là kinh doanh trên phạm vi quốc tế nên địa bàn rộng, thủ tục phức tạp, thời gian thực hiện lâu. -Trong hoạt động nhập khẩu có thể xảy ra những rủi ro thuộc về hàng hóa. Để đề phòng rủi ro, có thể mua bảo hiểm tương ứng. Lý thuyết về Hiệu quả kinh doanh nhập khẩu.
Khái niệm “hiệu quả kinh doanh nhập khẩu” Nếu hiệu quả kinh doanh phản ánh trình độ sử dụng nguồn lực sản xuất, trình độ tổ chức và quả lý của doanh nghiệp trong tất cả các hoạt động của doanh nghiệp thì hiệu quả kinh doanh nhập khẩu phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực, trình độ tổ chức và quản lý của doanh nghiệp chỉ trong phạm vi hoạt động nhập khẩu: -Xét trên góc độ doanh nghiệp: Hiệu quả kinh doanh chỉ có thể đạt được khi thu được kết quả tối đa với chi phí tối thiểu, thể hiện trình độ khả năng sử dụng các yếu tố nguồn lực cần thiết phục vụ cho quá trình kinh doanh nhập khẩu của doanh nghiệp -Xét trên góc độ xã hội: Hiệu quả kinh doanh nhập khẩu chỉ có thể đạt được khi tổng lợi ích xã hội nhận được từ hàng hóa dịch vụ nhập khẩu lớn hơn chi phí bỏ ra để sản xuất những hàng hóa dịch vụ này trong nước, nghĩa là hoạt động nhập khẩu góp phần làm nâng cao hiệu quả lao động xã hội, tăng chất lượng và giảm giá thành sản phẩm.Quan điểm đánh giá hiệu quả Hiệu quả là mối tương quan giữa kết quả đạt được và chi phí bỏ ra để đạt được mục đích đó.Do đó khi đánh giá hiệu quả kinh tế của một doanh nghiệp phải trải qua 2 bước cơ bản: -Phải so sánh kết quả đạt được với mục tiêu đã xác định -Sau đó so sánh kết quả đạt được với chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó. Có những hiệu quả kinh tế tăng nhưng mục tiêu của doanh nghiệp lại không thực hiện được. Hiệu quả là mục tiêu nhưng không phải là mục tiêu cuối cùng mà là mục tiêu xuên suốt mọi hoạt động kinh tế.Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả kinh doanh nhập khẩu Hiệu quả kinh doanh nói chung và hiệu quả hoạt động nhập khẩu nói riêng có vai trò hết sức quan trọng trong việc duy trì và phát triển doanh nghiệp. Hiệu quả kinh doanh xuất phát từ nhu cầu của thực tiễn sản xuất kinh doanh, nó có quyết định sự sống còn của mỗi doanh nghiệp.
Doanh nghiệp nào mà hoạt động càng có hiệu quả thì càng mở rộng, nâng cao khả năng cạnh tranh, chiếm lĩnh được thị trường rộng lớn và tạo uy tín cho doanh nghiệp trên thương trường. Một doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển thì bản thân nó phải luôn luôn không ngừng hoàn thiện và phát triển. Trong quả trình sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp không chỉ nghĩ đến việc đạt doanh thu hàng năm cao, mà còn nghĩ đến việc làm sao để kết quả đạt được năm sau cao hơn năm trước cả về số lượng lẫn chất lượng.Hệ thống các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh doanh nhập khẩu a.Chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh doanh tổng hợp -Lợi nhuận nhập khẩu Trong đó P là lợi nhuận nhập khẩu P=R-C R là doanh thu nhập khẩu C là chi phí nhập khẩu Lợi nhuận nhập khẩu là chi tiêu tổng hợp biểu hiện kết quả của quá trình kinh doanh nhập khẩu. Nó phản ánh các mặt số lượng và chất lượng hoạt động nhập khẩu của doanh nghiệp, phản ánh kết quả việc sử dụng các yếu tố cơ bản của sản 8 xuất như lao động, vật tư, tài sản cố định… tuy nhiên chỉ tiêu lợi nhuận chưa cho biết hiệu quả kinh doanh nhập khẩu được tạo ra từ nguồn lực nào, loại chi phí nào.
-Tỷ suất lợi nhuận nhập khẩu Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu (Pdt) Trong đó Dr là tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu Dr = P ÷ R P là tổng lợi nhuận nhập khẩu R là tổng doanh thu nhập khẩu Chi tiêu này phản ánh cứ một đồng doanh thu từ kinh doanh nhập khẩu thì thu được bao nhiêu đồng về lợi nhuận. chỉ tiêu này càng cao thì chứng tỏ khả năng sinh lợi của vốn càng lớn, hiệu quả kinh doanh nhập khẩu của doanh nghiệp càng cao và ngược lại Tỷ suất lợi nhuận trên chi phí (Pcp) Trong đó Dc là tỷ suất lợi nhuận trên chi phí Dc = P ÷ C P là tổng lợi nhuận nhập khẩu C là tổng chi phí Chi phí này phản ánh cứ một đồng chi phí bỏ vào kinh doanh nhập khẩu thì có bao nhiêu đồng lợi nhuận thu về. Chỉ tiêu này càng cao thì chứng tỏ hiệu quả kinh doanh nhập khẩu của doanh nghiệp càng lớn và ngược lại. Tỷ suất lợi nhuận trên tổng vốn (Pv) Trong đó Dv là tỷ suất lợi nhuận trên tổng nguồn vốn Dv = P ÷ V P là tổng lợi nhuận nhập khẩu V là tổng nguồn vốn Chỉ tiêu này phản ánh cứ một đồng vốn bỏ vào kinh doanh nhập khẩu thì có bao nhiêu đồng lợi nhuận thu về.
Chỉ tiêu này càng cao thì chứng tỏ khả năng sinh lợi của vốn càng cao, hiệu quả kinh doanh nhập khẩu của doanh nghiệp càng lớn và ngược lại.Chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh doanh nhập khẩu bộ phận - Hiệu quả sử dụng vốn lưu động Số vòng quay vốn lưu động nhập khẩu ( Svlđ) 9 Trong đó Svlđ là số vòng quay vốn lưu động nhập khẩu Svlđ = Rn ÷ Vn Rn là doanh thu thuần nhập khẩu Vn là vốn lưu động nhập khẩu Chỉ tiêu này phản ánh cứ một đồng vốn lưu động bỏ vào kinh doanh nhập khẩu thì thu được bao nhiêu đồng doanh thu hay vốn lưu động quay được bao nhiêu vòng trong một kỳ kinh doanh nhập khẩu. Chỉ tiêu này càng cao thì chứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn lưu động cho kinh doanh nhập khẩu của doanh nghiệp càng lớn và ngược lại. Thời gian 1 vòng quay vốn lưu động nhập khẩu (Tv) Trong đó Tn là thời gian của kỳ phân tích Tv = Tn ÷ Sn Sn là số vòng quay vốn lưu động nhập khẩu Tv là thời gian một vòng quay vốn Chỉ tiêu này phản ánh số ngày cần thiết để vốn lưu động cho kinh doanh nhập khẩu quay được 1 vòng. Thời gian quay vòng vốn lưu động càng ngắn chứng tỏ tốc độ luân chuyển càng lớn, hiệu quả kinh doanh nhập khẩu càng cao và ngược lại.
Hệ số đảm nhiệm vốn lưu động nhập khẩu (Hvlđ) Trong đó Hvlđ là hệ số đảm nhiệm vốn lưu động nhập khẩu Hvlđ = Vn ÷ Rn Vn là vốn lưu động nhập khẩu Rn là doanh thu thuần nhập khẩu Chỉ tiêu này phản ánh để tạo ra một dòng doanh thu nhập khẩu cần bao nhiêu đồng vốn lưu động bình quân. Chỉ tiêu này càng nhỏ chứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn lưu động nhập khẩu càng cao, số vốn tiết kiệm được càng nhiều và ngược lại.