CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHIẾN LƯỢC KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP 1.1 Chiến lược và quản trị Chiến lược sản xuất kinh doanh 1.1 Khái niệm về chiến lược và chiến lược kinh doanh của Doanh nghiệp Thuật ngữ chiến lược có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp với hai từ gồm có “Strator” là (quân đội, bày đàn) và “Agos” là (lãnh đạo, điều khiển).Chiến lược được sử dụng đầu tiên trong quân sự để chỉ các kế hoạch lớn, dài hạn được đưa ra trên cơ sở tin chắc được cái gì đối phương có thể làm và cái gì đối phương có thể không làm. Từ những năm 50 (của thế kỷ thứ XX) chiến lược được ứng dụng vào lĩnh vực kinh doanh và thuật ngữ “ chiến lược kinh doanh ra đời”. Tuy nhiên, quan niệm về chiến lược kinh doanh cũng được phát triển dần theo thời gian và người ta cũng tiếp cận nó theo nhiều cách khác nhau. Trong quản trị kinh doanh khái niệm chiến lược được thể hiện qua các quan niệm sau: - Chiến lược như là một triển vọng, quan điểm này muốn đề cập đến sự liên quan đến chiến lược với những mục tiêu cơ bản, thế chiến lược và triển vọng của nó trong tương lai.
- Theo Michael Porter (1996), “Chiến lược là việc tạo ra một sự hài hòa giữa các hoạt động của một công ty. Sự thành công của chiến lược chủ yếu dựa vào việc tiến hành tốt nhiều việc và kết hợp chúng với nhau. Cốt lõi của chiến lược là “lựa chọn cái chưa được làm”[4]. Tóm lại có thể nói: Chiến lược là chương trình hành động, kế hoạch hành động được thiết kế để đạt được một mục tiêu cụ thể, là tổ hợp các mục tiêu dài hạn và các biện pháp, các cách thức, con đường đạt đến các mục tiêu đó.
Khái niệm về chiến lược kinh doanh Chiến lược kinh doanh được nhiều nhà kinh tế học quan tâm nghiên cứu và đã đưa ra nhiều định nghĩa khác nhau về thuật ngữ “chiến lược kinh doanh”. Tùy theo từng cách tiếp cận mà xuất hiện các quan điểm khác nhau về chiến lược kinh doanh, tuy nhiên đều nhất quán cho rằng: chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp (DN) là những quyết 4 định hoặc những kế hoạch thống nhất các mục tiêu, các chính sách và sự phối hợp các hoạt động của các đơn vị kinh doanh (Strategic Business Unit- SBU) trong chiến lược tổng thể của DN.2 Phân loại Chiến lược kinh doanh Tuỳ theo các tiêu thức phân loại khác nhau mà có các loại chiến lược kinh doanh khác nhau.1 Căn cứ vào các mức độ quản trị chiến lược: Căn cứ vào mức độ quản trị chiến lược thì có thể chia chiến lược kinh doanh thành 3 cấp chiến lược: Chiến lược cấp Công ty; Chiến lược cấp kinh doanh; Chiến lược cấp chức năng.2 Căn cứ vào phạm vi của chiến lược Căn cứ vào phạm vi của Chiến lược kinh doanh được thực hiện có thể chia chiến lược kinh doanh thành 02 cấp, chiến lược tổng quát và chiến lược bộ phận.3 Phân loại chiến lược kinh doanh theo nội dung chiến lược: Căn cứ vào nội dung, các nhà quản lý người Pháp cho rằng chiến lược kinh doanh (CLKD) gồm các loại: + Chiến lược thương mại; + Chiến lược công nghệ và kỹ thuật; + Chiến lược tài chính; + Chiến lược con người.4 Phân loại chiến lược kinh doanh theo quá trình chiến lược: + Chiến lược định hướng; + Chiến lược hành động.5 Căn cứ vào hướng tiếp cận chiến lược gồm 4 loại: Chiến lược tập trung; Chiến lược dựa trên xu thế tương đối; Chiến lược sáng tạo tấn công; Chiến lược khai thác các khả năng tiềm năng Vai trò của chiến lược kinh doanh Chiến lược kinh doanh đóng vai trò hết sức quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của mỗi DN, cụ thể: - Chiến lược kinh doanh giúp các DN thấy rõ mục đích và hướng đi của mình. Có thể coi chiến lược kinh doanh như kim chỉ nam dẫn đường cho DN đi đúng hướng. - Thông qua việc phân tích và dự báo môi trường kinh doanh (MTKD), chiến lược kinh doanh giúp DN vừa linh hoạt vừa chủ động để thích ứng với những biến động của thị trường, đồng thời giúp DN nắm bắt và tận dụng tối đa các cơ hội và hạn chế ở mức thấp nhất các nguy cơ, từ đó tăng khả năng cạnh tranh của DN.
- Chiến lược kinh doanh sẽ giúp cho DN gắn liền các quyết định đề ra với điều kiện môi trường liên quan hay nói cách khác là giúp các DN đề ra các quyết định chủ động. - Xây dựng chiến lược sẽ giúp cho các DN tạo ra chiến lược kinh doanh tốt hơn thông qua việc sử dụng phương pháp tiếp cận hệ thống, tạo cơ sở tăng sự liên kết của các nhân viên với các quản trị viên trong việc thực hiện mục tiêu của DN. - Chiến lược kinh doanh giúp nhà quản trị sử dụng và phân bổ các nguồn lực hiện có một cách tối ưu. Chiến lược kinh doanh tạo ra một quỹ đạo hoạt động cho DN, giúp DN liên kết được các cá nhân với những lợi ích khác nhau cùng hướng tới một mục đích chung vì sự phát triển của DN.
Từ những lý do trên đây ta có thể thấy rằng chiến lược kinh doanh có tầm quan trọng đặc biệt đối với sự tồn tại và phát triển của các DN nói chung và Công ty Cổ phần Quản lý và Xây dựng Giao thông Lạng Sơn nói riêng.3 Môi trường kinh doanh của Doanh nghiệp MTKD bao gồm ba mức độ: Môi trường vĩ mô (môi trường nền kinh tế); môi trường vi mô (môi trường ngành kinh doanh); Môi trường nội bộ DN. Việc nghiên cứu các môi trường nhằm nhận thức được những cơ hội và nguy cơ đe dọa các hoạt động kinh 6 doanh của DN.1 Phân tích môi trường vĩ mô: Môi trường vĩ mô gồm các yếu tố, lực lượng, thể chế nằm bên ngoài tổ chức mà nhà quản trị khó kiểm soát được, nhưng chúng có ảnh hưởng gián tiếp đến hoạt động và kết quả hoạt động của tổ chức. Môi trường vĩ mô gồm những yếu tố cơ bản như sơ đồ Hình 1.1 Dân số Pháp luật Tự nhiên Doanh nghiệp Văn hóa Kinh tế Công nghệ Hình 1.1 Các yếu tố thuộc môi trường vĩ mô Đặc điểm của môi trường vĩ mô: - Những yếu tố thuộc môi trường vĩ mô có tác động gián tiếp đến hoạt động và kết quả hoạt động của DN. - Các yếu tố thuộc môi trường vĩ mô thường có mối quan hệ tương tác với nhau và cùng tác động đến tổ chức.
- Các yếu tố này có ảnh hưởng đến tất cả các ngành, các lĩnh vực khác nhau của mọi tổ chức, DN.2 Môi trường vi mô: Môi trường ngành (vi mô) bao gồm các yếu tố trong ngành và là các yếu tố ngoại cảnh đối với DN, quyết định tính chất và mức độ cạnh tranh trong ngành sản xuất kinh doanh đó. Có 5 yếu tố cơ bản là: đối thủ cạnh tranh, người mua, người cung cấp, các đối thủ mới tiềm ẩn và sản phẩm thay thế. Các yếu tố này có quan hệ và tương tác lẫn nhau, ảnh hưởng chung của các yếu tố này thường là một sự thực phải chấp nhận đối Đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn Sự đe dọa của người Quyền nhập mới Quyền lực của lực của nhà cung Đối thủ cạnh tranh hiện khách cấp có hàng Nhà cung cấp Khách hàng Cường độ cạnh tranh Sự đe dọa của sản phẩm/dịch vụ thay thế Sản phẩm thay thế Hình 1.2 Sơ đồ 5 lực lượng cạnh tranh (Porter’s Five Forces) của Michael Porter Nguồn: Thomas L.David Hunger, “Strategic management and business policy”, 8th edition, 2002, Prentice Hall, p61 với tất cả các DN, để đề ra một chiến lược thành công thì phải phân tích từng yếu tố chủ yếu đó. Sự hiểu biết các yếu tố này giúp DN nhận ra các mặt mạnh, yếu của mình liên quan đến các cơ hội và nguy cơ ngành kinh doanh đó gặp phải.
Các yếu tố môi trường ngành có thể khái quát như sơ đồ hình 1.2: Đặc điểm của môi trường vi mô: 8 - Các yếu tố thuộc môi trường vi mô thường tác động trực tiếp đến hoạt động và kết quả hoạt động của tổ chức. - Các yếu tố này tác động độc lập lên tổ chức. - Mỗi tổ chức dường như chỉ có một môi trường vi mô đặc thù.3 Môi trường nội bộ công ty: Môi trường nội bộ DN bao gồm tất cả các yếu tố bên trong của DN. Khi những yếu tố của môi trường vĩ mô và môi trường ngành có tác động gần như nhau đến các DN thì yếu tố mang tính quyết định đến thành công là các nguồn lực bên trong mỗi DN Môi trường nội bộ DN là các yếu tố của môi trường vi mô nhưng lại nằm trong tổ chức, chúng có ảnh hưởng trực tiếp, thường xuyên và rất quan trọng đến hoạt động quản trị và kinh doanh của chính ngay tổ chức đó.
Những yếu tố này giúp xác định rõ ưu, nhược điểm của DN, trên cơ sở đó đưa ra các biện pháp nhằm giảm bớt nhược điểm và phát huy ưu điểm một cách tối đa. Những nhân tố chính đại diện trong quá trình đánh giá môi trường nội bộ là: công tác marketing, tài chính - kế toán, khả năng sản xuất, nghiên cứu và phát triển, nhân lực… 1.4 Nội dung chủ yếu của Chiến lược kinh doanh Theo tác giả Nguyễn Thành Độ, Nguyễn Ngọc Huyền, nội dung của CLSXKD[8] bao gồm những nội dung chính như sau: Đầu tiên phải thể hiện được sứ mệnh của DN cũng như những mong muốn của lãnh đạo DN đó ở thời kỳ kinh doanh chiến lược. Sau đó, tiến hành đánh giá MTKD của DN bằng việc nghiên cứu các nhân tố bên ngoài, bên trong DN để xác định mặt mạnh, mặt yếu, thời cơ cũng như thách thức và hợp nhất phân tích tổng hợp bằng các công cụ thích hợp. Từ đó, làm cơ sở để xác định các mục tiêu phù hợp cho từng giai đoạn chiến lược.
Nội dung tiếp theo trong quá trình xây dựng chiến lược là việc xác định các phương án chiến lược và quyết định lựa chọn chiến lược tối ưu cho DN trong thời kỳ chiến lược. Qua đó để đưa ra các chính sách và các giải pháp cho quá trình thực hiện chiến lược đã xây dựng. Cuối cùng là kiểm tra, đánh giá và điều chỉnh trong quá trình xây dựng và tổ chức thực hiện chiến lược sản xuất kinh doanh (CLSXKD). Thực chất trong bước này là đi xem xét, đánh giá sự thay 9 đổi của MTKD để làm cơ sở trong việc điều chỉnh mục tiêu, chính sách và các giải pháp cho phù hợp với những thay đổi của MTKD.