CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHIẾN LƯỢC VÀ HOẠCH ĐỊNH CHIẾN LƯỢC SẢN XUẤT KINH DOANH 1. Các khái niệm cơ bản về quản trị chiến lược và hoạch định chiến lược trong kinh doanh 1. Khái niệm về chiến lược Khái niệm chiến lược có từ thời Hy lạp cổ đại, nó xuất phát từ nghệ thuật quân sự, với ý nghĩa là phương pháp, cách thức điều khiển và chỉ huy các trận đánh, theo thời gian, nhờ tính ưu việt của nó, chiến lược đã phát triển sang các lĩnh vực khoa học khác Chiến lược là định hướng, hoạch định mục tiêu và hoạt động trong tương lai, đáp ứng tổng quát của chủ thể quản lý với những thay đổi của môi trường. Ngày nay có nhiều cách định nghĩa chiến lược khác nhau, nhưng phổ biến nhất thì theo Aifred Chandler thuộc Đại học Harvard đã định nghĩa: “Chiến lược bao hàm việc ấn định các mục tiêu cơ bản dài hạn của nhà trường, đồng thời lựa chọn các cách thức hoặc tiến trình hành động và phân bố các tài nguyên thiết yếu để thực hiện các mục tiêu đó.
B Quinn thì: “ Chiến lược là một dạng thức hoặc một kế hoạch phối hợp các mục tiêu chính, các chính sách và các trình tự hành động thành một tổng thể kết tinh lại với nhau”. Khẳng định hơn William J, Gluek đã cho rằng : Chiến lược là một kế hoạch mang tính thống nhất, tính toàn diện, và tính phối hợp, được thiết kế để đảm bảo rằng các mục tiêu cơ bản của cơ quan đơn vị sẽ thực hiện”. Chiến lược phát triển còn là nghệ thuật để giành thắng lợi trong cạnh tranh. Muốn thắng thế cạnh tranh thì mỗi cơ quan tổ chức có những cách thức và nghệ thuật riêng nhưng chiến lược phát triển cũng góp một vai trò quan trọng trong vấn đề này.
- Theo ông Kohmae (Nhà kinh tế Nhật) thì mục đích của chiến lược là mang lại những điều kiện thuận lợi nhất cho một phía, đánh giá chính xác thời điểm tiến công hay rút lui, xác định rõ ranh giới của sự thoả hiệp, ông nhấn mạnh “Không có đối thủ cạnh tranh thì không có chiến lược”. Mục đích duy nhất của chiến lược là đảm bảo dành thắng lợi bền vững so với đối thủ cạnh tranh. - Theo Michael E Porter lại cho rằng “Chiến lược là nghệ thuật xây dựng các lợi thế cạnh tranh để phòng thủ”.Kế hoạch hoá chiến lược bao gồm tất cả các hoạt động dẫn tới phát triển các nhiệm vụ rõ ràng và các chiến lược tương ứng để đạt được các mục tiêu cho toàn bộ tổ chức. Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội 5 Đào Xuân Nghĩa - Theo Giáo sư Philipppe Lasserre thì “Chiến lược là phương thức mà các cơ sở đào tạo sử dụng để định hướng tương lai nhằm đạt được và duy trì những thành công.
Mục tiêu tối thiểu là phải làm sao tiếp tục tồn tại được, nghĩa là phải có khả năng thực hện được các nghĩa vụ trả lương cho giáo viên, một cách lâu dài và có thể chấp nhận được. David: “Chiến lược là những phương tiện đạt tới mục tiêu dài hạn. Chiến lược kinh doanh có thể gồm có sự phát triển về địa lý, đa dạng hoá hoạt động sở hữu hoá, phát triển sản phẩm, thâm nhập thị trường, cắt giảm chi tiêu, thanh lý và liên doanh” Như vậy có thể thấy có nhiều định nghĩa và cách hiểu khác nhau về chiến lược. Nhưng nhìn chung có thể hiểu: Chiến lược là tập họp các quyết định (mục tiêu, đường lối,chính sách, phương, thức, phân bổ nguồn lực.và phương châm hành động để đạt được mục tiêu dài hạn phát huy được những điểm mạnh, khắc phục được những điểm yếu của tổ chức, giúp tổ chức đón nhận những cơ hội và vượt qua nguy cơ từ bên ngoài một cách tốt nhất.
Chiến lược kinh doanh của một doanh nghiệp là một chương trình hành động tổng quát hướng tới việc thực hiện những mục tiêu của doanh nghiệp. Chiến lược là một tập hợp những mục tiêu và các chính sách cũng như các kế hoạch chủ yếu để đạt được các mục tiêu đó, nó cho thấy rõ công ty đang hoặc sẽ thực hiện các hoạt động kinh doanh gì và công ty đang hoặc sẽ thuộc vào lĩnh vực kinh doanh gì. Mục đích của một chiến lược là nhằm tìm kiếm những cơ hội, hay nói cách khác là nhằm gia tăng cơ hội và vươn lên tìm vị thế cạnh tranh. Còn chính sách là phương cách đường lối hoặc tiến trình dẫn dắt hành động trong khi phân bố sử dụng các nguồn lực của đơn vị.
Có thể nói chính sách chính là phương tiện để đạt được các mục tiêu. Chính sách là những chỉ dẫn cho việc làm quyết định hoặc đưa ra quyết định và thể hiện các tình huống thường lặp lại hay có tính chu kỳ. Giữa chiến lược và chính sách có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Nếu chiến lược là một chương trình hành động, tổng quát hướng tới việc đạt được các mục tiêu cụ thể thì chính sách sẽ dẫn dắt chúng ta trong quá trình thực hiện quyết định.
Quản trị chiến lược 1. Khái niệm Quản trị chiến lược Theo Garry D.Smith và cộng sự: “Quản trị chiến lược là quá trình nghiên cứu các môi trường hiện tại cũng như tương lai, hoạch định các mục tiêu của tổ chức; Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội 6 Đào Xuân Nghĩa đề ra, thực hiện và kiểm tra việc thực hiện các quyết định nhằm đạt được các mục tiêu đó trong môi trường hiện tại cũng như tương lai”. Quản trị chiến lược là quá trình quản lý theo đuổi chức năng nhiệm vụ của một tổ chức trong khi quản lý mối quan hệ của tổ chức đó đối với môi trường. Quản lý chiến lược là tập hợp các quyết định và biện pháp hành động dẫn đến việc hoạch định và thực hiện các chiến lược nhằm đạt được mục tiêu của DN.
Các bước cấu thành quá trình quản trị chiến lược có ảnh hưởng lẫn nhau và có thể diễn ra đồng thời. Với ý nghĩa đó, quản lý chiến lược là một hệ thống. khi các nhà quản trị tập trung vào một bước cụ thể nào đó, như đề ra mục tiêu thì tất cả các phần cấu thành khác cần phải xem xét quyết định. Vai trò của Quản trị chiến lược Quản trị chiến lược giúp cho một tổ chức có thể chủ động hơn thay vì bị động trọng việc vạch rõ tương lai của mình, nó cho phép một tổ chức có thể tiên phong và gây ảnh hưởng trong môi trường nó hoạt động và vì vậy, vận dụng hết khả năng của nó để kiểm soát vượt khỏi những gì thiên biến.
Quản trị chiến lược tạo cho mỗi người nhận thức hết sức quan trọng. Cả ban giám đốc và người lao động đều thấu hiểu và cam kết sẽ thực hiện mục tiêu của doanh nghiệp. Một khi mọi người trong doanh nghiệp hiểu rằng doanh nghiệp đó đang làm gì và tại sao lại như vậy họ cảm thấy họ là một phần của doanh nghiệp, họ sẽ cam kết ủng hộ mọi hoạt động của doanh nghiệp. Vai trò của chiến lược kinh doanh đối với doanh nghiệp được thể hiện trên các khía cạnh sau: Trước hết, quá trình quản trị chiến lược giúp các tổ chức thấy rõ mục đích và hướng đi của của mình.
Nó khiến cho lãnh đạo phải xem xét và xác diịnh xem tổ chức đi theo hướng nào và khi nào thì đạt tới một điểm cụ thể nhất định. Thứ hai, điều kiện môi trường mà các tổ chức gặp phải luôn biến đổi nhanh. Những biến đổi nhanh thường tạo ra các cơ hội và nguy cơ bất ngờ. Phương cách dùng quản trị chiến lược giúp nhà quản trị nhắm vào các cơ hội và nguy cơ trong tương lai.
Thứ ba, nhờ có quản trị chiến lược các hãng sẽ gắn liền các quyết định đề ra với điều kiện môi trường liên quan. Do sự biến động và tính phức tạp trong môi trường ngày càng gia tăng, hãng cần phải chiếm được vị thế chủ động hoặc thụ động tấn công. Quyết định chủ động là sự cố gắng dự báo điều kiện môi trường và sau đó tác động hoặc làm thay đổi các điều kiện dự báo sao cho hãng đạt được mục tiêu đề ra. Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội 7 Đào Xuân Nghĩa Thứ tư, lý do quan trọng nhất phải vận dụng quản trị chiến lược là phần lớn các công trình nghiên cứu cho thấy các công ty vận dụng quản trị chiến lược thì đạt kết quả tốt hơn nhiều so với các kết quả mà họ đạt được trước đó.
Các cấp quản trị chiến lược a. Chiến lược cấp công ty Chiến lược cấp công ty là chiến lược bao trùm toàn bộ các chương trình hành động nhằm mục đích xác định: + Những ngành nghề kinh doanh nào đừng nên tham gia kinh doanh + Xác định kế hoạch phối hợp và phân bổ các nguồn lực giữa các lĩnh vực kinh doanh. + Dựa vào kỹ thuật phân tích để đánh giá khả năng thực hiện chiến lược xem xét các chiến lược đang theo đuổi có phù hợp với bối cảnh hoạt động của công ty. + Hiện thực hoá nhiệm vụ chiến lược và các mục tiêu chính Chiến lược cấp công ty có thể là: - Chiến lược tập trung - Chiến lược hội nhập theo chiều dọc - Chiến lược đa dạng hoá sản phẩm Ngoài những chiến lược trên thì còn có các chiến lược như: Chiến lược cắt giảm, chiến lược liên doanh liên kết, chiến lược ổn định, chiến lược thôn tính.
Chiến lược cấp doanh nghiệp ( Hay đơn vị kinh doanh) Xác định xem công ty sẽ cạnh tranh như thế nào với những đối thủ cạnh tranh trong ngành. Mỗi một đơn vị doanh nghiệp có thể được tổ chức như một đơn vị kinh doanh chiến lược (SBU_ Strategy Business Unit) chuyên kinh doanh một nhóm sản phẩm dịch vụ tương tụ nhau. Ban quản trị cấp cao của công ty thường coi mỗi SBU như là một đơn vị tương đối độc lập có quyền phát triển chiến lược riêng cho mình để hỗ trợ thực hiện chiến lược cấp công ty. Các chiến lược chức năng Chiến lược này tìm cách sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn lực hiện có nhằm bổ trợ cho việc thực hiện chiến lược cấp doanh nghiệp và chiến lược cấp công ty.
Nó bao gồm các chiến lược sau: Chiến lược Marketing, chiến lược nghiên cứu và phát triển , chiến lược vật tư,. Chú ý: Ba cấp chiến lược trên hợp thành hệ thống chiến lược của công ty kinh doanh đa ngành, trong đó chiến lược cấp thấp hơn bị giới hạn bởi chiến lược cấp trên trực tiếp. Cho nên chúng có mối quan hệ mật thiết với nhau và cần được phối hợp để Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội 8 Đào Xuân Nghĩa đảm bảo sự thành công trên bình diện cả công ty.