Chương 1 TỔNG QUAN VỀ CHIẾN LƯỢC KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP 1.1 Khái niệm và đặc trưng của chiến lược kinh doanh 1.1 Khái niệm chiến lược kinh doanh. Theo Bruce Henderson, chiến lược gia đồng thời là nhà sáng lập Tập đoàn tư vấn Boston thì: “Chiến lược kinh doanh là sự tìm kiếm thận trọng một kế hoạch hành động để phát triển và kết hợp lợi thế cạnh tranh của tổ chức”. Theo giáo sư Alfred Chandler thuộc trường đại học Harvard định nghĩa: “Chiến lược kinh doanh là tiến trình xác định các mục tiêu cơ bản dài hạn của doanh nghiệp, cách lựa chọn phương hướng hành động và phân bổ tài nguyên nhằm thực hiện các mục tiêu đó.” Có thể nói chiến lược kinh doanh là một bản phác thảo tương lai bao gồm các mục tiêu mà doanh nghiệp mong muốn đạt được cũng như các phương tiện cần thiết để thực hiện các mục tiêu đó. Chiến lược kinh doanh cần phải giải quyết được những vấn đề sau: - Phương hướng của doanh nghiệp trong dài hạn.
- Xác định thị trường cạnh tranh và những hoạt động cần thiết phải thực hiện trên thị trường đó. - Doanh nghiệp sẽ phải làm thế nào để hoạt động tốt hơn so với các đối thủ cạnh tranh trên thị trường đó, tức là xác định lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp. - Các nguồn lực cần thiết doanh nghiệp phải có để cạnh tranh. - Những nhân tố nào từ môi trường bên ngoài ảnh hưởng tới khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp.
- Giá trị hiện tại và kỳ vọng tương lai của cấp lãnh đạo trong doanh nghiệp và thị trường bên ngoài cần, đòi hỏi ở doanh nghiệp. Như vậy, bản chất của chiến lược kinh doanh là phác thảo hình ảnh tương lai của doanh nghiệp trong khu vực hoạt động và khả năng khai thác, chiến lược kinh doanh xác định các mục tiêu dài hạn, các chính sách và các giải pháp để thực hiện mục tiêu đó. Trong kinh tế thị trường, khi cạnh tranh ngày càng gay gắt doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển phải đặc biệt quan tâm đầu tư cho công tác quản lý. Quản 6 lý doanh nghiệp bao gồm quản lý chiến lược và quản lý điều hành.
Quản lý chiến lược gồm có hoạch định chiến lược, thẩm định - quyết định lựa chọn chiến lược và chỉ đạo thực hiện chiến lược. Michael Porter (1996) cho rằng: “Chiến lược là nghệ thuật tạo ra lợi thế cạnh tranh.” Alain Thretar lại cho rằng: “Chiến lược kinh doanh là nghệ thuật mà doanh nghiệp dùng để ứng phó với cạnh tranh nhằm dành thắng lợi”. Theo Genral Aileret: Chiến lược là kết quả hoạch định mục tiêu, phương cách và phương tiện tổng quát. Theo Alfred Chandler (trường đại học Harvard,1962): Chiến lược hoạt động của doanh nghiệp là kết quả hoạch định mục tiêu tổng quát, hướng – phương cách hoạt động và các nguồn lực chủ yếu sẽ huy động sử dụng.TS Đỗ Văn Phức (2013), chiến lược hoạt động của doanh nghiệp là kết quả xác định mục tiêu chiến lược, các cặp sản phẩm - khách hàng chiến lược và các nguồn lực chiến lược nhằm giành lợi thế cạnh tranh.TS Ngô Kim Thanh (2010), “Chiến lược còn được hiểu là một tập hợp những mục tiêu và các chính sách cũng như kế hoạch chủ yếu để đạt được các mục tiêu đó, nó cho thấy doanh nghiệp đang hoặc sẽ thực hiện các hoạt động kinh doanh gì, và doanh nghiệp đang hoặc sẽ thuộc vào lĩnh vực kinh doanh nào”.
Doanh nghiệp thường có chiến lược kinh doanh và các chiến lược theo mục tiêu tập trung, theo các lĩnh vực hoạt động, theo các công đoạn, theo các yếu tố đầu vào,. Theo mục tiêu ưu tiên doanh nghiệp trong từng giai đoạn có thể chọn hoạch định, chiến lược kinh doanh bao gồm: Chiến lược phát triển theo chiều sâu, tạo ra những điểm độc đáo, khác biệt đáng kể của hàng hoá và chiến lược mở rộng hoạt động, đa dạng hoá sản phẩm; Chiến lược giảm thiểu lãng phí, chi phí, giá thành,. Theo lĩnh vực hoạt động doanh nghiệp có thể chọn hoạch định bao gồm: Chiến lược hoạt động sản xuất; Chiến lược hoạt động thương mại; Chiến lược hoạt động dịch vụ,. Theo công đoạn doanh nghiệp sản xuất có thể chọn hoạch định, bao gồm: Chiến lược sản phẩm; Chiến lược giá; Chiến lược phân phối; Chiến lược xúc tiến bán hàng.
7 Theo tiêu chí đảm bảo các nguồn lực thì chiến lược kinh doanh bao gồm: Chiến lược phát triển, đảm bảo vốn; Chiến lược phát triển, đảm bảo khoa học, công nghệ; Chiến lược phát triển, đảm bảo nhân lực,. Chất lượng của chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp phụ thuộc chủ yếu vào chất lượng của các cơ sở, căn cứ cho hoạch định chiến lược đó. Các cơ sở, căn cứ cho hoạch định chiến lược là: Kết quả dự báo nhu cầu của thị trường; kết quả dự báo về đối thủ cạnh tranh và kết quả dự báo về năng lực của bản thân doanh nghiệp. Các cơ sở, căn cứ đảm bảo chất lượng khi: Đầy đủ cả ba cơ sở, căn cứ; từng cơ sở, căn cứ đảm bảo chất lượng: có cùng thời gian với bản chiến lược, phương pháp dự báo được sử dụng phù hợp và chất lượng dữ liệu đảm bảo,.
- Các cách phân loại chiến lược kinh doanh: Phân loại chiến lược kinh doanh theo chu kỳ phát triển của doanh nghiệp: Mỗi doanh nghiệp trong quá trình phát triển của mình có thể trải qua các giai đoạn như: Giai đoạn mới hình thành; giai đoạn phát triển; giai đoạn sung sức và giai đoạn suy yếu. Chiến lược kinh doanh trong giai đoạn mới hình thành: Chiến lược dựa vào nguồn lực tại chỗ; Chiến lược dựa vào nhà máy lớn; Chiến lược lợi dụng khe hở; Chiến lược thị trường cục bộ. Chiến lược kinh doanh trong giai đoạn phát triển: Chiến lược tăng trưởng,. Chiến lược kinh doanh trong giai đoạn sung sức: Chiến lược thương hiệu nổi tiếng của doanh nghiệp; Chiến lược phát triển hội nhập; Chiến lược đa dạng hoá sản phẩm,.
Chiến lược kinh doanh trong giai đoạn suy yếu: chiến lược loại bỏ những gì cần và phải loại bỏ,.2 Đặc trưng của chiến lược kinh doanh a. Tính toàn cục: Chiến lược kinh doanh là sơ đồ tổng thể về sự phát triển của doanh nghiệp, nó quyết định quan hệ của doanh nghiệp với môi trường khách quan. Tính toàn cục của chiến lược kinh doanh thể hiện trên 3 mặt: – Chiến lược kinh doanh phải phù hợp với xu thế phát triển toàn cục của doanh nghiệp, là cương lĩnh chỉ đạo toàn bộ hoạt động của doanh nghiệp. – Chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp phải phù hợp với xu thế phát triển của đất nước về các mặt kinh tế, kỹ thuật, xã hội trong một thời kỳ nhất định.
8 – Chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp phải phù hợp với trào lưu hội nhập kinh tế của thế giới. Tính toàn cục của chiến lược kinh doanh đòi hỏi phải xem xét tất cả các bộ phận của doanh nghiệp, phải phân tích tình hình của toàn doanh nghiệp, hoàn cảnh toàn quốc và hoàn cảnh quốc tế. Nếu không có quan điểm toàn cục thì không thể có chiến lược kinh doanh tốt. Tầm nhìn xa: Trước kia, nhiều doanh nghiệp vì không có chiến lược, làm việc chạy theo thị trường, nên không đạt được hiệu quả như kỳ vọng.
Đó là do doanh nghiệp chưa nắm được xu thế phát triển của xã hội. Do vậy, muốn xây dựng chiến lược kinh doanh tốt thì phải chú trọng công tác dự báo xu thế phát triển về kinh tế, kỹ thuật của xã hội. Một chiến lược thành công thường là một chiến lược dựa trên cơ sở dự báo đúng. Tính cạnh tranh: Nếu không có cạnh tranh thì không cần thiết xây dựng và thực hiện chiến lược kinh doanh.
Do đó tính cạnh tranh là đặc trưng mang tính bản chất nhất trong các đặc trưng của chiến lược kinh doanh. Trong thời đại hiện nay, không có doanh nghiệp nào là không hoạt động trong môi trường cạnh tranh. Vì vậy, chiến lược kinh doanh phải nghiên cứu làm thế nào để doanh nghiệp có được ưu thế cạnh tranh hơn đối thủ và do đó mà giành được thắng lợi trong cạnh tranh. Tính rủi ro: Chiến lược kinh doanh là quy hoạch phát triển của doanh nghiệp trong tương lai nhưng môi trường sinh tồn của doanh nghiệp trong tương lai là điều không chắc chắn, có thể thay đổi.
Quá trình thời gian của chiến lược càng dài thì các nhân tố không chắc chắn của hoàn cảnh khách quan càng nhiều, mức độ không chắc chắn càng lớn, rủi ro của chiến lược càng lớn. Tính rủi ro của chiến lược kinh doanh đòi hỏi nhà doanh nghiệp phải đứng cao, nhìn xa, quan sát một cách thận trọng, khách quan tính chất và phương hướng thay đổi của hoàn cảnh khách quan mới có thể có được chiến lược đúng. Hiện nay, chúng ta đang ở trong quá trình chuyển biến từ thể chế kinh tế kế hoạch sang thể chế kinh tế thị trường, môi trường vĩ mô của các doanh nghiệp thay đổi rất lớn. Do đó, chiến lược kinh doanh không nên tính toán quá dài, chỉ nên tính 3-5 năm là vừa để đảm bảo tính linh hoạt và tính hiện thực của chiến lược.
Tính chuyên nghiệp và sáng tạo: các doanh nghiệp vừa và nhỏ có thể căn cứ vào thực lực của mình để lựa chọn lĩnh vực kinh doanh phù hợp với sở trường và thế mạnh của mình, tránh những ngành mà doanh nghiệp lớn có thế mạnh để giữ được vị thế độc quyền trong lĩnh vực mà mình có thế mạnh. Đại đa số các doanh nghiệp làm được như vậy đều thành công, phát triển phồn vinh. Nhưng tiến bộ kỹ thuật và cạnh tranh thị trường là không có giới hạn. Do đó, các doanh nghiệp vừa và nhỏ phải không ngừng du nhập hoặc phát triển kỹ thuật tiên tiến thích hợp.
Chuyên môn hóa và sáng tạo kỹ thuật thích hợp là biện pháp quan trọng để đảm bảo sự sinh tồn và phát triển của doanh nghiệp vừa và nhỏ. Đó cũng là đặc điểm quan trọng của chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp vừa và nhỏ. Tính ổn định tương đối: Chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp phải có tính ổn định tương đối trong một thời kỳ nhất định. Nếu không, nó sẽ có ý nghĩa chỉ đạo đối với hoạt động thực tiễn của doanh nghiệp.
Môi trường khách quan và họat động thực tiễn của doanh nghiệp là một quá trình vận động không ngừng. Chiến lược kinh doanh không thể cố định một bề nhưng không thể thay đổi một sớm một chiều mà phải tương đối ổn định.