CHƯơNG 1: TỔNG QUAN ĐỀ TÀI I. LY DO CHON DE TAI Đồng Nai như đang ngồi trên lửa trước thách thức của hội nhập kinh tế quốc tế. Con đường đi đến hội nhập kinh tế quốc tế đang đến gần và sẽ “gõ cửa” không chừa một ai. Hội nhập kinh tế thế giới là van dé sinh tử của nền kinh tế quốc gia, của từng doanh nghiệp, của từng hộ sản xuất, hộ nông dân trồng trọt và chăn nuôi.
Hội nhập là một thách thức rất lớn phải được chủ động đối phó khi mà sức cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam nói chung và của các doanh nghiệp, hộ sản xuất ở Đồng Nai nói riêng còn đang ở thế yếu hơn. Khi hội nhập kinh tế quốc tế thì sức ép cạnh tranh đối với nền kinh tế Việt Nam là rất lớn và rất quyết liệt. Nếu không tích cực và chủ động hơn nữa thì lúc đó các sản phẩm của doanh nghiệp địa phương sẽ phải nhường thị phân lại cho các sản phẩm của nước ngoài ngay trên “sân nhà” chứ đừng nói đến việc xuất khẩu ra nước ngoài. Các nhà lãnh đạo và các chuyên gia kinh tế Đồng Nai đã nhiễu lân lên tiếng cảnh báo về vấn để này, cho nên, hội nhập kinh tế quốc tế đang trở thành vấn để cấp bách, rất bức thiết vì có lên quan đến sự thịnh suy của cả nên kinh tế, đến sự tổn tại của doanh nghiệp và liên quan tới cuộc sống của thợ thủ công, của hộ nông dân.
Ở Đồng Nai, chúng ta không chỉ lạc hậu về khoa học và công nghệ mà còn thiếu nhiều chuyên gia đầu đàn thuộc nhiều ngành khoa học. Nhiều nơi còn áp dụng công nghệ sản xuất từ những thập niên 60-70 và lại chậm được đổi mới cả về nhận thức lẫn hành động cụ thể của giám đốc các doanh nghiệp. Nhiều doanh nghiệp Nhà nước địa phương có trình độ công nghệ và quản lý thấp, sản phẩm có khả năng cạnh tranh kém nhưng việc xây dựng và thực hiện các dự án đổi mới công nghệ, thiết bị còn rất chậm, không ít doanh nghiệp còn trông chờ nhiều vào sự hỗ trợ của Nhà nước. Hơn thế nữa, lực lượng lao động có trình độ cao ở Đồng Nai còn quá mỏng so với yêu cầu phát triển KT- XH trong những năm qua.
Ở những kỳ hội thảo về nguồn nhân lực, các tổ chức thường lên tiếng rằng đang rất thiếu đội ngũ cán bộ về số lượng lẫn chất lượng. Ø Đồng Nai, nguồn lực về con người làm khoa học còn rất thiếu trên nhiều lĩnh vực, điều này đã làm giảm sức mạnh để phục vụ phát triển của tỉnh nhà. Trong khi đó mỗi năm Đồng Nai có trung bình 1/5 số thí sinh trúng tuyển trong số gần 30.000 thí sinh đăng ký dự thi vào các trường Trang2 đại học, cao đẳng. Thực tế mỗi năm Đồng Nai có một đội ngũ trí thức trẻ ra trường cần có việc làm.
Thế nhưng, chưa bao giờ số lượng sinh viên tốt nghiệp đại học nhưng chưa có việc làm lại nhiều như hiện nay, số sinh viên tốt nghiệp nhận làm những công việc được đánh giá không thích hợp với địa vị xã hội mà đáng ra họ phải được hưởng cũng khá phổ biến. Con số 5,4% tỉ lệ sinh viên thất nghiệp được khảo sát trong năm 2001 đã nói lên sự lãng phí tiền của và nguồn nhân lực của toàn xã hội. Chúng ta không có nhiều tài nguyên khoáng sản, chưa nhiều về vốn tiền mặt, cũng còn đi sau về công nghệ, nhưng có thể rút ngắn khoảng cách và vượt lên dòng thời cuộc nếu biết khai thác tốt hơn nguồn lực con người Đồng Nai. Vấn để là chúng ta phải biết biến nguồn nhân lực đó thành những đóng của cải để phát triển kinh tế, Vậy biến bằng cách nào nguồn lực của gần 6.000 người mỗi năm thành một nguồn vốn hữu hiệu cho tăng trưởng? Cách sử dụng tài năng của mỗi con người cũng phải có cách nhìn nhận, đánh giá, cân nhắc một cách linh hoạt, thực sự muốn trọng dụng tài năng cho sự phát triển của mỗi doanh nghiệp và cho cả địa phương.
Nhân tài không phải quá khan hiếm mà điểu quan trọng là phải tìm ra một cơ chế huy động, cơ chế sử dụng nguồn lực đó sao cho hiệu quả nhất. Tình hình hiện tại chúng ta phải ưu tiên cho chiến lược con người nhằm khai thác tối đa những ưu thế của con người. Đây là một tiểm năng không nhỏ về nguồn chất xám khoa học kỹ thuật nếu được khai thông sẽ góp phần tạo chất xúc tác và động lực cho kinh tế Đồng Nai phát triển. Trong khi vẫn mong muốn được bổ sung những nguồn động lực mới, Đồng Nai phải có chính sách “chiêu hiển đãi sĩ”; phải có giải pháp đào tạo nguồn nhân lực phù hợp với nhu cầu phát triển KT-XH; tạo nguồn nhân lực tại chỗ; thu hút chất xám trong cả nước, chất xám từ con em Đồng Nai ở trong nước và nước ngoài; đãi ngộ các nhà khoa học đầu đàn là con em Đồng Nai đang làm việc tại thành phố Hồ Chí Minh và ở nước ngoài.
Trong phạm vi nghiên cứu của mình, tôi đi vào để tài: Tỉnh Đông Nai :định hướng chiến lược khuyến khích trí thức về quê lập nghiệp từ nay đến năm 2010 Tôi tin rằng trong tương lai Đồng Nai sẽ là nơi “đất lành chim đậu”, tỉnh Đồng Nai sẽ gánh cùng thành phố Hồ Chí Minh về vấn đề nhà ở, việc làm, môi trường, nạn thất nghiệp và an ninh xã hội. MUC TIEU NGHIEN CUU Đồng Nai được chỉ đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh theo Nghị Quyết của Đảng bộ tỉnh lần thứ IV là công nghiệp-dịch vụ-nông nghiệp. Lãnh đạo của tỉnh đặc biệt quan tâm đóng góp vào sự phát triển KT-XH của tỉnh nhà, nhất là tranh thủ đầu tư, tạo thêm công ăn việc làm, thúc đẩy sản xuất của tỉnh. Hiện nay những nhà chức trách của tỉnh đang đầu tư cho việc phát triển các khu công nghiệp mới, việc đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng công nghệ mới và phát triển công nghiệp trên địa bàn là nhu cầu rất to lớn.
Vì vậy, trước tiên cần huy động nguồn lực nội sinh về khoa học công nghệ hiện có để phục vụ phát triển. Để sinh viên quay về sau khi tốt nghiệp đại học, sau đại học, Đồng Nai phải có những chế độ, chính sách ưu đãi nào? Làm thế nào để thu hút và giữ chân họ? Chúng ta cần xây dựng chiến lược đào tạo và trọng dụng nhân tài, có chế độ đãi ngộ thỏa đáng với nhân tài mới hy vọng quy tụ được một đội ngũ những người có tài năng và tâm huyết. Do đó, để sinh viên quay về Đồng Nai, Đồng Nai phải có điều kiện gì? 1. Công việc có đúng chuyên môn ngành nghề mà sinh viên đã theo đuổi ở đại học? 2.
Môi trường làm việc, cơ hội để thể hiện mình? 3. Sinh viên nhận được những hỗ trợ về vật chất có tương xứng với trình độ? 4. Đồng Nai tiếp tục đối mới công nghệ, khuyến khích sinh viên nâng cao trình độ bằng cách hỗ trợ kinh phí, chỉ phí, tăng lương, tăng phụ cấp, để bạt. Công việc phải ổn định để họ an tâm nghiên cứu, trau dôi nghề nghiệp.
Từ những điều kiện trên, lợi ích của việc sinh viên về làm việc tại Đồng Nai được thể hiện ở nhiều mặt: _ Đẩy mạnh và mở rộng việc khai thác tiểm năng của tỉnh _ Biến Đồng Nai thành một cực thu hút giới sinh viên tốt nghiệp ở nước ngoài, ở những thành phố lớn trong nước _Những trí thức trẻ này sẽ mang về địa phương những phương pháp quản lý mới, công nghệ tiên tiến và một chiến lược tiếp thị mới mẻ, mang đến cho công việc sự năng động, hiệu quả cao đồng thời tạo sự ảnh hưởng tích cực đến các công ty xí nghiệp địa phương Trang4 _Chấm dứt cuộc sống bấp bênh của dân tỉnh khi bám trụ lại thành phố, ổn định về nhà ở và việc làm. Một khi nguyện vọng của sinh viên và sự quan tâm của lãnh đạo tỉnh gặp nhau thì chiến lược thu hút sinh viên của tỉnh quay về làm việc lâu đài chính là bước đột phá về nhân sự để Đồng Nai đi lên và phát triển một cách ổn định, cân đối khi bước vào kinh tế thế giới. PHẠM VI NGHIÊN CỨU Chính sách hỗ trợ của tỉnh Đồng Nai đối với sinh viên có hộ khẩu tại Đồng Nai có nguyện vọng lập nghiệp trên địa bàn tỉnh sau khi tốt nghiệp đại học, cao học chuyên ngành kinh tế tại TP.HCM Dựa vào báo cáo quy hoạch tổng thể KT-XH tỉnh từ năm 2001- 2010, để tài được định hướng chiến lược trong khoảng thời gian từ nay đến năm 2010. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Nghiên cứu sử dụng số liệu sơ cấp Ung dung SPSS Tìm số liệu thông tin thứ cấp qua các tài liệu báo cáo của tỉnh và báo chí Đồng Nai Tham khảo niên giám thống kê tỉnh Đồng Nai CHUONG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN - MỘT SỐ LÝ THUYẾT LIÊN QUAN Trang5 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN - MOT SO LY THUYET LIEN QUAN I.
MOI TRUONG QUAN TRI TAI NGUYÊN NHÂN SỰ Tài nguyên nhân sự chịu ảnh hưởng bởi môi trường bên ngoài và môi trường bên trong A/ Môi trường bên ngoài: 1. Khung cảnh kinh tế Chu kỳ kinh tế và chu kỳ kinh doanh ảnh hưởng rất lớn đến quản trị tài nguyên nhân sự. Trong giai đoạn kinh tế suy thoái, hoặc kinh tế bất ổn có chiều hướng đi xuống, công ty một mặt vẫn cần phải duy trì lực lượng lao động có tay nghề, một mặt phải giảm chỉ phí lao động. Công ty phải quyết định giảm giờ làm việc, cho nhân viên nghỉ tạm hoặc cho nghỉ việc, hoặc giảm phúc lợi.
Ngược lại, khi kinh tế phát triển và có chiều hướng ổn định, công ty lại có nhu câu phát triển lao động mới để mở rộng sản xuất, tăng cường đào tạo huấn luyện nhân viên. Việc mở rộng sản xuất này đòi hỏi công ty phải tuyển thêm người có trình độ, đòi hỏi phải tăng lương để thu hút nhân tài, tăng phúc lợi, và cải thiện điều kiện làm việc 2. Dân số/ lực lượng lao động Nước ta là một nước nặng về nông nghiệp. Nền kinh tế đang hướng dẫn đến nền kinh tế thị trường (có sự điều tiết của Nhà nước).
Nói chung kinh tế Việt Nam phát triển mạnh để trở thành một nước công nghiệp mới. Trong khi đó, dân số phát triển rất nhanh. Lực lượng lao động hàng năm cần việc làm càng ngày càng đông. Điều này ngược hẳn với các nước phát triển, mà tỷ lệ gia tăng dân số là trên 1%.
Điều này đưa tới hiện tượng là tỷ lệ người lớn tuổi ngày càng có khuynh hướng gia tăng.