Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu Chương 2: Một số vấn đề lý luận và kinh nghiệm thực tiễn về chiến lược cạnh tranh và tác động của chiến lược cạnh tranh đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương 4: Thực trạng chiến lược cạnh tranh và tác động của chiến lược cạnh tranh đến hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp kinh doanh thực phẩm Việt Nam Chương 5: Định hướng phát triển, quan điểm và giải pháp hoàn thiện chiến lược cạnh tranh nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp kinh doanh thực phẩm Việt Nam. 6 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Để triển khai các nội dung nghiên cứu của đề tài luận án, NCS đã khảo cứu các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước bao gồm: Giáo trình, sách tham khảo, các bài báo, các đề tài nghiên cứu khoa học, các đề tài luận án tiến sĩ. có liên quan đến các vấn đề về CLCT, hiệu quả kinh doanh, tác động của CLCT đến hiệu quả kinh doanh của các DN nói chung và DN kinh doanh thực phẩm trong nước và quốc tế nói riêng. Cụ thể như sau: 1.
Các nghiên cứu về chiến lƣợc cạnh tranh và hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp 1. Nghiên cứu về chiến lược cạnh tranh CLCT là một trong những chủ đề nghiên cứu quan trọng đối với các DN. Tuy vậy, hiện nay tồn tại khá nhiều quan điểm và cách tiếp cận về CLCT khác nhau. Trong đó phải kể đến nghiên cứu quan trọng đầu tiên của tác giả Porter ([126],1980) với cuốn sách “Chiến lược cạnh tranh”.
Đây là công trình nghiên cứu nổi tiếng thế giới về chiến lược nói chung và CLCT nói riêng. Nội dung cuốn sách tập trung làm rõ sự tồn tại của DN được quyết định bởi một trong hai yếu tố lợi thế gồm: chi phí thấp nhất và sự khác biệt hóa sản phẩm, từ đó tác giả đã phát triển thành ba loại hình CLCT chính cho các DN lựa chọn chính là: CLCT chi phí thấp, CLCT khác biệt hóa và CLCT tập trung. Tác giả đã phân tích về bản chất, đặc điểm, điều kiện phù hợp để lựa chọn và theo đuổi mỗi loại hình CLCT cũng như những thuận lợi và rủi ro đối với DN khi lựa chọn. Đây được coi là một trong những công trình nghiên cứu quan trọng để có thể hình thành được hệ thống cơ sở lý luận cho NCS trong nghiên cứu đề tài luận án.
Dựa trên kết quả nghiên cứu về CLCT của Porter ([126], 1980), đã có một số nhà nghiên cứu trên thế giới phát triển lý thuyết về CLCT như Gibert và Strerbel ([89],1989), Treacy và Wiersema ([145], 1995), Hax và Wilde ([93], 2001)… Tuy nhiên hầu như các quan điểm về CLCT này đều có sự tương đồng về mặt ý tưởng đối với quan điểm của M. Porter đưa ra trước đây. Một quan điểm mới của Chan và Renee ([74], 2005) được đưa ra để bàn về CLCT theo một quan điểm khác so với cách tiếp cận truyền thống. Trong công trình nghiên cứu “Chiến lược đại dương xanh” các tác giả đã trình bày những nguyên lý cơ bản về CLCT trong thời đại mới, trong đó giả định các DN hoạt động trong các ngành kinh doanh hiện thời được ví như đang tham gia vào “đại dương đỏ” và CLCT tốt nhất dành cho DN đó là “chiến lược đại dương xanh”.
Cũng theo quan điểm này, thay vì chỉ cạnh tranh dựa trên một lợi thế cạnh tranh đặc thù là chi phí 7 thấp hoặc khác biệt hóa, DN có thể sử dụng CLCT dựa trên cả hai nguồn của lợi thế cạnh tranh là cả chi phí thấp và khác biệt hóa, tuy nhiên phải đáp ứng được những điều kiện, và nguyên tắc cụ thể. Sau này, Sanchez và Heene ([135], 2004) trong nghiên cứu “Khái luận về quản trị dựa trên năng lực: Nhận dạng và quản lý năng lực cạnh tranh” đã xây dựng lý thuyết mới về CLCT dựa trên năng lực cạnh tranh của DN. Trong đó nhấn mạnh sự cạnh tranh của DN dựa trên các yếu tố như sau: nguồn lực, thị trường và tương tác cạnh tranh. Ở đó nhấn mạnh chiến lược khả thi phải bao gồm các nguồn lực, những khả năng của DN trong việc sử dụng nguồn lực, quy trình quản lý để xác định, xây dựng năng lực và một chiến lược xác định trong quá trình triển khai nhằm theo đuổi các mục tiêu chiến lược cụ thể.
Về cơ bản, cạnh tranh dựa trên nguồn lực cho rằng sự thành công bền vững của DN là từ lợi thế so sánh các nguồn lực trong khi cạnh tranh dựa trên năng lực lại khẳng định sự thành công là đạt được mục tiêu (có thể bao gồm nhiều khía cạnh khác nhau như cung cấp lợi ích kinh tế, môi trường làm việc, kinh nghiệm chuyên môn và các lợi ích khác là cơ sở cho sự phát triển của tất cả các bên liên quan, chứ không chỉ là các mục tiêu trong chiến lược để tối đa hóa lợi nhuận hoặc tối đa hóa lợi ích cổ đông). Năng lực cạnh tranh là cơ sở tạo nên lợi thế cạnh tranh bền vững của DN và trực tiếp phản ánh khả năng thay đổi trong cấu trúc nguồn lực của DN theo thời gian để thích nghi với môi trường. Điều này phù hợp với nghiên cứu cho thấy rằng trong môi trường thay đổi liên tục thì các năng lực cạnh tranh mới là nguồn gốc của lợi thế cạnh tranh mà các đối thủ cạnh tranh sẽ khó có thể bắt chước hoặc cải tiến trong dài hạn. Tại Việt Nam, đã có nhiều tác giả nghiên cứu về chủ đề chiến lược và CLCT của DN.
Tác giả Ngô Kim Thanh ([38], 2012), tác giả Nguyễn Hoàng Việt và Nguyễn Hoàng Long ([23], 2015) với giáo trình “Quản trị chiến lược” được sử dụng trong quá trình giảng dạy ở trường đại học. Đây là những công trình nghiên cứu cung cấp cơ sở lý luận một cách khoa học và hệ thống về chiến lược và CLCT của DN. Trong đó nhấn mạnh chiến lược kinh doanh là công cụ cạnh tranh hiệu quả của DN trong điều kiện toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế hiện nay, và sự cạnh tranh khốc liệt giữa các DN trên thị trường. Nhờ có chiến lược mà các DN có thể tạo ra một quỹ đạo hoạt động cho DN, giúp DN liên kết được các cá nhân và lợi ích khác cùng hướng tới một mục đích phát triển DN.
Các nghiên cứu này cũng xây dựng một quy trình nhằm quản trị chiến lược hiệu quả, phù hợp và linh hoạt cho các DN có điều kiện chủ động thích ứng với sự biến động của thị trường. Trong hai công trình nghiên cứu này, tác giả cũng đã phân tích vai trò và tầm quan trọng của CLCT giúp cho DN định hướng 8 hoạt động trong dài hạn và là cơ sở cho việc triển khai các hoạt động tác nghiệp, chiến lược cũng cho phép DN nắm bắt và tận dụng các cơ hội kinh doanh đồng thời có được biện pháp chủ động thích nghi với sự thay đổi, biến động của môi trường và thị trường, mặt khác chiến lược góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực từ đó cho phép DN tăng cường vị thế cạnh tranh cũng như phát triển bền vững. Tác giả Phạm Thúy Hồng ([12], 2003) với đề tài luận án tiến sĩ “Phát triển chiến lược cạnh tranh cho các DN vừa và nhỏ Việt Nam trong tiến trình hội nhập nền kinh tế thế giới”. Trong công trình nghiên cứu này, tác giả đã nghiên cứu các vấn đề lý luận cơ bản về phát triển CLCT của DN, tập trung vào hai khía cạnh chính là lựa chọn và triển khai CLCT gắn với các DN nhỏ và vừa tại Việt Nam.
Tác giả đã tập trung hoàn thiện và phát triển CLCT theo các nội dung: Xác lập sứ mạng kinh doanh của DN, phân tích các nhân tố bên trong và bên ngoài, hoạch định các phương án chiến lược cụ thể, phân tích lựa chọn chiến lược tối ưu và chuẩn bị các điều kiện triển khai – thực thi và đánh giá chiến lược. Từ kết quả đánh giá thực trạng quy trình quản trị CLCT của các DN nhỏ và vừa, tác giả đã đề xuất một số giải pháp phát triển CLCT cho các DN nhỏ vừa và nhỏ trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế trong đó nhấn mạnh áp dụng và triển khai ba loại hình CLCT điển hình: CLCT chi phí thấp, CLCT khác biệt hóa và CLCT tập trung. Đề tài nghiên cứu một cách có hệ thống về CLCT của DN, tuy nhiên mới chỉ chú trọng vào quy trình ra quyết định và lựa chọn CLCT thông qua một số công cụ phân tích điển hình mà chưa làm nổi bật được nội dung của CLCT cũng như các năng lực cạnh tranh quan trọng của các DN nhỏ và vừa tại Việt Nam. Cùng chủ đề nghiên cứu này, đề tài luận án tiến sĩ “Giải pháp xây dựng chiến lược cạnh tranh của các ngân hàng thương mại cổ phần trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh” của tác giả Trương Quang Thông ([40], 2004) xem xét vấn đề lựa chọn CLCT phù hợp cho các ngân hàng trong bối cảnh hội nhập và cạnh tranh ngày càng mạnh mẽ.
Tác giả sử dụng cách tiếp cận truyền thống trong xây dựng và phát triển cơ sở lý luận về CLCT của DN. Trong đó, quy trình xây dựng CLCT của các ngân hàng bao gồm các nội dung: phân tích môi trường vĩ mô, phân tích môi trường ngành, phân tích mô hình chuỗi giá trị, phân tích năng lực cạnh tranh của DN và lựa chọn CLCT. Trong đó đề tài đã sử dụng các công cụ phổ biến trong phân tích và lựa chọn chiến lược như: ma trận hình ảnh cạnh tranh, ma trận TOWS, ma trận định hướng chiến lược QSPM. để đề xuất xây dựng CLCT cho các ngân hàng thương mại cổ phần trên địa bàn TP.
Hồ Chí Minh. Tuy nhiên, đề tài tiếp cận xây dựng CLCT theo quy trình quản trị chiến lược truyền thống bao gồm: Hoạch định chiến lược, thực thi chiến lược và triển khai chiến lược nhưng chưa định hình rõ về nội dung các CLCT đề xuất cho 9 các ngân hàng, ngoài ra tác giả chỉ mới tập trung vào xây dựng và lựa chọn chiến lược, chưa nghiên cứu cụ thể về các hoạt động triển khai và đánh giá hiệu quả CLCT cho các ngân hàng thương mại cổ phần trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh. Tác giả Nguyễn Hoàng Việt ([44], 2010) với công trình nghiên cứu “Phát triển chiến lược kinh doanh cho các DN ngành may Việt Nam” tập trung nghiên cứu về khái niệm, mô hình và quy trình phát triển chiến lược kinh doanh cho các DN thương mại nói chung và DN ngành may Việt Nam.