đặt vấn đề nghiên cứu, tác giả trình bày mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu, ý nghĩa đề tài và kết cấu đề tài. Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu Nội dung trình bày trong chương này gồm các khái niệm, nền tảng lý thuyết có liên quan đến nghiên cứu. Đồng thời, tác giả cũng trình bày quá trình xây dựng mô hình nghiên cứu và các giả thuyết được đề nghị. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Nội dung chương bao gồm xây dựng quy trình nghiên cứu, cách thức thu thập và xử lý số liệu, nghiên cứu định tính và xác định được mô hình nghiên cứu chính thức và thang đo sau khi điều chỉnh.
Chương 4: Kết quả của nghiên cứu Trên cơ sở xử lý số liệu sau khi dùng các phần mềm chuyên dùng sẽ cho ra các kết quả và các bước kiểm định để đánh giá thang đo. -7- Chương 5: Kết luận và Hàm ý quản trị Đánh giá tổng hợp về kết quả tìm được và trình bày một số kiến nghị nhằm giúp các nhà quản trị/ quản lý có các phương án phù hợp với tình hình hiện tại nhằm tăng cường chia sẻ tri thức và hành vi làm việc đổi mới tại đơn vị. -8- CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2. Tri thức và quản trị tri thức: 2.
Tri thức: Có nhiều định nghĩa về tri thức, Turban (1992) định nghĩa tri thức là thông tin được tổ chức và phân tích làm cho nó dễ hiểu và áp dụng cho việc giải quyết vấn đề hoặc ra quyết định. Wiig (1993) định nghĩa tri thức gồm sự thật và niềm tin, quan điểm và khái niệm, các phán đoán và kỳ vọng, phương pháp và bí quyết. Tri thức có thể được xem là trạng thái, đối tượng, quá trình, điều kiện hoặc khả năng (Alavi và Leidner, 2001). Thông tin được biến đổi thành tri thức của con người thông qua (a) cách so sánh thông tin giữa một tình huống với các tình huống khác đã biết, (b) các quyết định và hành động nào dẫn đến thông tin, (c) thông tin này liên quan đến thông tin khác như thế nào và (d) những gì người khác nghĩ về thông tin này (Davenport và Prusak, 1998).
Từ các nghiên cứu đã thực hiện, ta có thể nhận định tri thức được tiếp cận theo hai cách. Cách thứ nhất là dựa trên việc liệt kê các loại tri thức, cách thứ hai là dựa trên dữ liệu và thông tin. Trong nghiên cứu của mình, tác giả sử dụng cả hai cách tiếp cận cho hai mục đích khác nhau, cụ thể là cách thứ nhất giúp tác giả nhận biết được các loại tri thức được chia sẻ giữa các nhân viên doanh nghiệp ngành giao thông vận tải; cách thứ hai giúp tác giả phân biệt được tri thức với dữ liệu và thông tin khi khảo sát và phỏng vấn sâu đối tượng nghiên cứu. Theo từng góc độ tiếp cận thì tri thức được chia thành nhiều loại khác nhau.
Trong quản trị tri thức có hai khái niệm quan trọng là tri thức ẩn và tri thức hiện. Theo Hickins (1999), trong doanh nghiệp, 12% tri thức được lưu giữ trong các cơ sở tri thức điện tử, 20% trong các tài liệu điện tử, 26% là tài liệu giấy và 42% trong bộ não của cá nhân. Do vậy, gần một nửa tri thức của doanh nghiệp là tri thức ẩn. Trong bối cảnh các doanh nghiệp giao thông vận tải, tri thức ẩn chính là kinh nghiệm và kiến -9- thức chuyên môn được giữ trong bộ não của chuyên gia.
Ngược lại, cơ sở dữ liệu, sách giáo khoa, báo cáo kỹ thuật và nhiều nguồn có điểm chung mang tính cụ thể, hình thể,… là các hình thức của tri thức hiện. Pretorius và Steyn, (2005) đã nhận định tri thức hiện bao gồm các mô hình, quy tắc và thủ tục chính thức. Quản trị tri thức: 2. Định nghĩa: Ipe (2003) mô tả quản trị tri thức là lựa chọn, khoanh vùng, lưu trữ, tổ chức, phân loại, chia sẻ và truyền đạt thông tin cần thiết cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp nhằm nâng cao hiệu quả và khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp.
Quan điểm này được tác giả chọn lựa sử dụng trong nghiên cứu của mình vì đây là định nghĩa bao quát đầy đủ nội dung của quản trị tri thức, phù hợp để đạt được mục tiêu kinh doanh của doanh nghiệp, đối tượng nghiên cứu của luận văn. Sự cần thiết phải quản trị tri thức: Quản trị tri thức giúp doanh nghiệp tồn tại trên thị trường, có đủ thông tin, nguồn lực để cạnh tranh với các đối thủ. Desouza và Paquette (2011) cho rằng nếu không có sự quan tâm thích đáng dành cho quản trị tri thức, các doanh nghiệp sẽ không hoạt động tối ưu và điều này sẽ dẫn đến việc tạo ra các sản phẩm và dịch vụ không hiệu quả, không đem lại hài lòng cho khách hàng, từ đó dẫn đến sự sụp đổ của doanh nghiệp. Quá trình quản trị tri thức: Quá trình quản trị tri thức được xem như một quá trình, trong đó gồm nhiều quá trình và hoạt động nhỏ.
Theo Kimiz (2005) đã giới thiệu quá trình quản trị tri thức như sau: Nắm bắt và sáng tạo tri thức Phân phối và Chia sẻ tri thức Tìm kiếm và sử dụng tri thức. Trong đó, bước phân phối và chia sẻ tri thức được đánh giá là rất quan trọng đối với việc quản lý các nguồn tri thức ẩn. Phạm vi đề tài sẽ nghiên cứu sâu về các nhân tố tác động đến động lực chia sẻ tri thức của nhân viên. Lý thuyết động lực: Yếu tố quyết định hành vi nói chung được xác định là động lực, theo Lin (2007) thì hành vi chấp nhận công nghệ thông tin, hành vi liên quan đến công việc và có tác động đến chia sẻ tri thức.
Có hai loại động lực chính là động lực bên ngoài và động lực bên trong, hai loại động lực này đã được xác định và kiểm tra ở nhiều bối cảnh khác nhau từ các nghiên cứu trước. Trong đó: Động lực bên trong đề cập đến việc tham gia vào một hoạt động vì lợi ích riêng của nó như thông qua việc chia sẻ tri thức thì nhân viên có thể hài lòng bằng cách nâng cao sự tự chủ về tri thức hoặc tự tin về khả năng cung cấp tri thức hữu ích cho tổ chức (theo Constant và cộng sự, 1994,1996). Thông qua đó ta có thể hiểu rằng động lực bên trong chính là các nhân tố thuộc về bản thân, cá nhân con người các tác động đến chia sẻ tri thức. Động lực bên ngoài của nhân viên để chia sẻ tri thức là niềm tin về kết quả nhận được từ nhận thức của nhân viên về giá trị của chia sẻ tri thức (Kankanhalli và cộng sự, 2005), ví dụ như môi trường làm việc cảm thông, các chính sách khuyến khích trao đổi, chia sẻ tri thức,… của doanh nghiệp sẽ thu hút hoặc khích lệ hoạt động chia sẻ tri thức.
Như vậy, lý thuyết động lực đã xác định chia sẻ tri thức cũng như mọi hành vi khác của con người đều chịu ảnh hưởng bởi động lực bên trong và động lực bên ngoài. Đó là cơ sở để tác giả đề xuất các nhân tố thuộc về cá nhân và tổ chức có tác động đến chia sẻ tri thức giữa các nhân viên trong đơn vị - doanh nghiệp giao thông vận tải. Để có thể hiểu rõ hành vi chia sẻ tri thức giữa các nhân viên trong nội bộ hoặc giữa các đơn vị, doanh nghiệp với nhau, chúng ta phải bắt đầu từ các khái niệm đầu tiên, đó là hành vi chia sẻ tri thức là gì. Chia sẻ tri thức: 2.
Định nghĩa: Không giống các yếu tố sản xuất khác, tầm quan trọng và hiệu quả chung của - 11 - tri thức không bị giảm bớt, mà còn tăng lên khi nó được chia sẻ (Gumus, 2007). Theo Phạm Quốc Trung và Lạc Thái Phước (2014) chia sẻ tri thức là quá trình chuyển giao tri thức từ người này sang người khác, ở cấp độ cá nhân hoặc tập thể. Đây là một giai đoạn quan trọng của quá trình quản trị tri thức, nó đảm bảo sự thành công của quản trị tri thức, vì nhờ nó tri thức ẩn (chiếm phần lớn của nguồn lực tri thức) có thể nắm bắt và chia sẻ trong toàn công ty. Thúc đẩy chia sẻ tri thức là một thách thức lớn đối với nhà quản lý, vì nhân viên thường không muốn chia sẻ tri thức với người khác (do lo ngại mất quyền lực).
Tsui và các cộng sự (2006) hành vi chia sẻ tri thức được định nghĩa là hành vi trao đổi tri thức (kỹ năng, kinh nghiệm và sự hiểu biết) giữa các cá nhân trong tổ chức. Ngoài ra, nghiên cứu còn định nghĩa các cơ chế của hành vi chia sẻ tri thức trong tổ chức bao gồm: - Đóng góp tri thức vào cơ sở dữ liệu của tổ chức; - Chia sẻ tri thức trong quá trình tương tác chính thức và không chính thức với các thành viên trong và ngoài đội/nhóm làm việc; - Chia sẻ tri thức trong các hoạt động cộng đồng; Cũng như tri thức, chia sẻ tri thức cũng có thể nhìn thấy được (như giao tiếp bằng lời nói, trao đổi tài liệu, …) hoặc không nhìn thấy được (sự quan sát, hoạt động xã hội,…). Hình thức chia sẻ tri thức: Yi (2009) đề xuất chia sẻ tri thức được phân thành bốn loại theo hình thức: đóng góp bằng văn bản, tương tác cá nhân, truyền thông tổ chức và cộng đồng thực hành. Ngoài ra, kể chuyện, cố vấn, cộng đồng trực tuyến và các diễn đàn chia sẻ tri thức, thảo luận trực tuyến cũng là những hình thức chia sẻ tri thức, cụ thể: Bảng 2.1 Các hình thức chia sẻ tri thức Hình thức Tác giả Định nghĩa Giúp nhân viên hiểu và áp Oyarce, 2012 dựng được tri thức trong Kể chuyện hiện tại và tương lai Chia sẻ những câu chuyện Hester, 2011 thành công của nhân viên - 12 - Chuyển giao tri thức ẩn của Hildreth và Kimble, mình cho nhân viên mới để 2002 giúp đỡ, củng cố tri thức cho tổ chức Cố vấn Đòi hỏi người cố vấn cần có chuyên môn, mong muốn Clutterbuck, 2001 thực hiện, có kỹ năng giao tiếp và gần gũi với tổ chức được tư vấn Tạo ra một nền tảng, môi Cộng đồng trực Liebowitz và cộng sự, trường ảo để mọi người tuyến 2001 thảo luận và đưa ra ý kiến, quan điểm Diễn đàn chia sẻ Liebowitz và cộng sự, Nơi trao đổi và chuyển giao tri thức 2001 tri thức Tương tác qua các nền tảng, Thảo luận trực Hawandeh và Refai, môi trường ảo để tìm ra kết tuyến 2008 luận hợp lý Nguồn: tác giả tổng hợp 2.
Các lợi ích của chia sẻ tri thức: 2.