Chương 1 : Lý thuyết về chi tiêu công và tăng trưởng kinh tế. Chương 2 : Chi tiêu công và tăng trưởng kinh tế Bình Dương giai đoạn 1997 - 2010. Chương 3 : Kiến nghị và giải pháp nâng cao hiệu quả chi tiêu công. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 1 Chƣơng 1 LÝ THUYẾT VỀ CHI TIÊU CÔNG VÀ TĂNG TRƢỞNG KINH TẾ 1.1 Lý thuyết chi tiêu công 1.1 Khái niệm chi tiêu công : Theo nghĩa rộng chi tiêu công là những khoản chi của mọi tổ chức và cá nhân không nhằm tìm kiếm lợi nhuận.
Ngƣời thực hiện các khoản chi mang tính chất nhƣ vậy không chỉ là bộ máy nhà nƣớc mà có các tổ chức phi lợi nhuận, tổ chức phi chính phủ và kể cả khu vực tƣ trong một số trƣờng hợp. Cũng xét theo nghĩa rộng, không phải một khoản tiền chi ra mới thuộc công chi, mà nhiều trƣờng hợp không thu tiền vẫn đƣợc xem là công chi. Điển hình cho tình huống này là các khoản giảm hoặc miễn thuế của chính phủ đối với mọi tổ chức và cá nhân. Theo nghĩa hẹp và trong phạm vi Luận văn này, chi tiêu công đƣợc hiểu là các khoản chi tiêu của bộ máy nhà nƣớc nhằm thực hiện các chức năng vốn có của mình trong việc cung cấp hàng hóa công, dịch vụ công phục vụ lợi ích kinh tế - xã hội cho cộng đồng.2 Đặc điểm chi tiêu công : Xuất phát từ khái niệm trên, có thể khái quát đặc điểm của chi tiêu công nhƣ sau : - Chi tiêu công gắn liền với bộ máy nhà nước.
Các khoản chi tiêu công nhằm thực hiện các chức năng, mục tiêu, nhiệm vụ kinh tế, chính trị, xã hội của quốc gia. - Chi tiêu công phục vụ cho lợi ích chung của cộng đồng. Chi tiêu công tạo nên một khối lƣợng hàng hóa và dịch vụ công to lớn cho nền kinh HVTH : Nguyễn Văn Tuyên GVHD : PGS,TS. Nguyễn Hồng Thắng LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Đặc điểm này đồng thời dẫn đến một suy đoán hợp lý đó là tài trợ cho chi tiêu công phải mang tính cộng đồng. Nhƣ vậy, việc đánh thuế và vay nợ công đƣợc xem là hai nguồn tài trợ logic và tất yếu cho chi tiêu công. Nếu phân phối gánh nặng thuế hay gánh nặng nợ không công bằng giữa các công dân, sẽ tạo ra những người được thụ hưởng lợi ích của chi tiêu công nhưng không nộp thuế (free-rider). Điều đó tác động tiêu cực đến quá trình lôi cuốn mọi ngƣời tham gia tài trợ công chi.
- Các khoản chi tiêu công mang tính không hoàn trả hay hoàn trả không trực tiếp. Với chức năng tổng hợp về kinh tế - xã hội của chính phủ mà không phải mọi khoản thu với mức độ và số lƣợng của những địa chỉ cụ thể đều đƣợc hoàn lại dƣới hình thức các khoản chi tiêu công cộng.3 Nguyên tắc chi tiêu công Mặc dù mang tính phi lợi nhuận, nhƣng do đƣợc tài trợ bằng thuế và nợ công nên chi tiêu công cần phải tuân thủ những nguyên tắc cơ bản nhằm tránh gánh nặng cho thế hệ tƣơng lai. Giải trình : Trách nhiệm giải trình đƣợc cấu thành bởi hai điều: sự giải thích đƣợc và kết quả. Điều này liên quan đến trách nhiệm giải trình của Chính phủ về địa chỉ của chi tiêu công và kết quả đã đạt đƣợc từ các khoản chi tiêu đó.
Trách nhiệm giải trình có ý nghĩa trong thực hiện ngân sách nhà nƣớc, vì mục đích của chi tiêu công là phục vụ lợi ích của cộng đồng. Minh bạch : Sự công khai minh bạch tài chính là sự sẵn sàng thông tin cho công chúng và nhà tài trợ tiến trình chuẩn bị ngân sách, thực hiện ngân sách và các báo cáo về ngân sách. Tất cả đƣợc xem xét một cách HVTH : Nguyễn Văn Tuyên GVHD : PGS,TS. Nguyễn Hồng Thắng LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 3 độc lập và đảm bảo sự trung thực, khách quan trong dự báo, thông tin và thực hiện ngân sách.
Tiên liệu : Thiếu tiên liệu trong việc lập dự toán ngân sách làm suy yếu dần các ƣu tiên chiến lƣợc và gây khó khăn cho các viên chức công khi lập kế hoạch cung cấp hàng hóa dịch vụ công. Tiên liệu chi tiêu công ở mức tổng thể và ở các bộ ngành khác nhau cần thiết nhƣ những định hƣớng khu vực tƣ trong việc sản xuất, tiếp thị và ra quyết định đầu tƣ. Sự tham gia của công chúng : Sự tham gia của công chúng bao gồm sự tham gia của toàn thể công dân chứ không chỉ nhân viên, viên chức công và các nhóm lợi ích khác. Tất cả các chủ thể tham gia này thì đƣợc yêu cầu vì mục tiêu thực hiện tốt chƣơng trình chi tiêu của Chính phủ.
Sự tham gia của các tổ chức, cá nhân ngoài khu vực công nhằm kiểm soát hiệu suất (efficiency) hoạt động của khu vực công cũng nhƣ chất lƣợng dịch vụ công.4 Nội dung chi tiêu công Chi tiêu công gồm nhiều khoản mục chi khác nhau tùy theo từng cách phân loại. Nếu phân loại chủng loại (kind of goods and services), chi tiêu công đƣợc phân thành chi mua hàng và chi cho con ngƣời. Chi mua hàng gồm chi mua hàng tiêu dùng (consumption goods) và hàng dùng cho sản xuất (capital goods). Chi cho con ngƣời (personnel expenditure) là chi trợ cấp, trợ giá,.
Nếu phân theo thực thể chính quyền (official body), chi tiêu công đƣợc phân thành: chi của chính phủ, chi của chính quyền địa phƣơng, chi của các tổ chức phi chính phủ. HVTH : Nguyễn Văn Tuyên GVHD : PGS,TS. Nguyễn Hồng Thắng LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 Nếu phân theo nhiệm vụ của chính phủ, chi tiêu công đƣợc phân thành: - chi xây dựng và bảo vệ pháp luật (justice, public order) - chi kết cấu hạ tầng kinh tế (infrastructure) - chi quốc phòng (military system) - chi giáo dục (education system) - chi bảo vệ môi trƣờng (environamental protection) - chi chăm sóc sức khỏe (health care) - chi trợ giúp ngƣời dễ bị thƣơng tổn (vulnerable suppor) - trợ cấp cho doanh nghiệp (support for firms) - chính sách phát triển vùng (regional policies) - chi cho các chƣơng trình mục tiêu. Nếu phân theo nội dung, chi tiêu công gồm ba khoản chi lớn: chi đầu tƣ, chi thƣờng xuyên (gồm chi quản lý hành chính, chi chuyển giao) và chi trả nợ.
Đây cũng là cách phân loại đƣợc sử dụng trong Luận văn. CHI ĐẦU TƢ PHÁT TRIỂN : Chi đầu tƣ phát triển là quá trình chính phủ sử dụng một phần nguồn lực tài chính để đầu tƣ xây dựng hạ tầng kinh tế - xã hội, phát triển sản xuất và để dự trữ vật tƣ hàng hóa, nhằm đảm bảo thực hiện các mục tiêu ổn định và tăng trƣởng của nền kinh tế. Ở Việt Nam, chi đầu tƣ phát triển bao gồm : Chi xây dựng các công trình thuộc kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội không có khả năng hoàn vốn. Đây là khoản chi lớn của chính phủ nhằm phát triển kết cấu hạ tầng đảm bảo các điều kiện cần thiết cho nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội.
Bao gồm : chi đầu tƣ xây dựng các công trình HVTH : Nguyễn Văn Tuyên GVHD : PGS,TS. Nguyễn Hồng Thắng LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 giao thông, bƣu chính viễn thông, điện lực, năng lƣợng, các ngành công nghiệp cơ bản, các công trình trọng điểm phát triển văn hóa xã hội,… Chi đầu tư, hỗ trợ vốn cho các doanh nghiệp nhà nước, góp vốn cổ phần, góp vốn liên doanh vào các doanh nghiệp thuộc các lĩnh vực cần thiết có sự tham gia của chính phủ. Chúng bao gồm : Đầu tƣ hỗ trợ vốn cho các doanh nghiệp để xây dựng mới, cải tạo, mở rộng cơ sở vật chất kỹ thuật, trang thiết bị,… hoặc góp vốn cổ phần liên doanh. Thông qua đó chính phủ can thiệp vào nền kinh tế bằng việc nắm những ngành quan trọng, chủ yếu, quy mô lớn để dẫn dắt nền kinh tế theo mục tiêu phát triển kinh tế của đất nƣớc, đảm bảo vai trò chủ đạo của thành phần kinh tế nhà nƣớc.
Chi hỗ trợ các quỹ hỗ trợ phát triển : Nhằm tạo lập quỹ hỗ trợ phát triển để thực hiện việc hỗ trợ vốn cho các dự án đầu tƣ phát triển thuộc các ngành nghề ƣu đãi và các vùng khó khăn theo quy định của Chính phủ, nhằm phát triển sản xuất, đảm bảo cân đối giữa các ngành, các vùng trong cả nuớc. Khoản chi này hình thành vốn điều lệ của quỹ và có thể chi để bổ sung vốn hàng năm khi cần thiết. Chi dự trữ nhà nước : Là khoản chi hình thành nên quỹ dự trữ nhà nƣớc nhằm mục đích dự trữ những vật tƣ, thiết bị, hàng hóa chiến lƣợc phòng khi nền kinh tế gặp những biến cố bất ngờ về thiên tai, địch họa,… đảm bảo cho nền kinh tế phát triển ổn định. CHI THƢỜNG XUYÊN : Bao gồm chi quản lý hành chính và chi chuyển giao CHI QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH : Đây là các khoản chi cho bộ máy quản lý hành chính công.
HVTH : Nguyễn Văn Tuyên GVHD : PGS,TS. Nguyễn Hồng Thắng LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 Bộ máy hành chính của chính phủ đƣợc thiết lập từ trung ƣơng đến địa phƣơng và toàn bộ các ngành, lĩnh vực của nền kinh tế quốc dân thực hiện chức năng quản lý toàn diện nền kinh tế - xã hội. Chi quản lý hành chính nhằm đảm bảo sự hoạt động của hệ thống các cơ quan chính phủ. Ở Việt Nam, khoản chi này bao gồm 5 lĩnh vực cơ bản : Chi về hoạt động các cơ quan quyền lực nhà nƣớc, Chi về hoạt động của hệ thống các cơ quan pháp luật, Chi về hoạt động quản lý vĩ mô nền kinh tế - xã hội cho hệ thống các cơ quan quản lý kinh tế - xã hội và chính quyền các cấp.
Chi về hoạt động của các cơ quan Đảng cộng sản Việt nam ở các cấp. Chi về hoạt động của các tổ chức chính trị - xã hội. CHI CHUYỂN GIAO : Đây là các khoản chi cho các mục tiêu an sinh, xã hội. Ở Việt nam, chi chuyển giao gồm các khoản chi sau đây : Chi sự nghiệp văn hóa – xã hội : Là các khoản chi mang tính chất tiêu dùng xã hội, liên quan đến sự phát triển đời sống tinh thần của các tầng lớp dân cƣ.