đặt vấn đề là bên cạnh giá trị tương đối, còn tồn tại giá trị tuyệt đối. Đó là thực thể của giá trị, là số lượng lao động kết tinh, giá trị trao đổi là hình thức cần thiết và có khả năng duy nhất để biểu hiện giá trị tuyệt đối.Ricardo soát sét lại lý luận giá trị của A.Smith, gạt bỏ những dư thừa và mâu thuẫn trong lý thuyết kinh tế của A. Chẳng hạn, trong định nghĩa về giá trị của A.Ricardo chỉ ra là định nghĩa “Giá trị lao động hao phí quyết định” là đúng, còn định nghĩa “Giá trị lao động mà người ta có thể mua được bằng hàng hoá này quyết định” là không đúng. Theo ông, không phải chỉ trong nền sản xuất hàng hoá giản đơn mà ngay cả trong nền sản xuất lớn TBCN, giá trị vẫn do lao động quyết định.Ricardo cũng khẳng định “Giá trị là do lao động hao phí quyết định”.
Ông có ý định phân tích lao động giản đơn và lao động phức tạp, qui lao động phức tạp thành lao động giản đơn trung bình. Ông cho rằng, lao động xã hội cần thiết quyết định lượng giá trị hàng hoá, song lại cho rằng, lao động xã hội cần thiết do điều kiện sản xuất xấu nhất quyết định. Phương pháp nghiên cứu của ông còn có tính siêu hình. Ông coi giá trị là phạm trù vĩnh viễn.
Đó là thuộc tính của mọi vật, Ông chưa phân biệt được giá trị hàng hoá và giá cả sản xuất, chưa thấy được mâu thuẩn giữa giá trị và giá trị sử dụng vì chưa có được lý thuyết tính hai mặt của lao động. Tóm lại, Học thuyết kinh tế của D.Ricardo đạt tới đỉnh cao của kinh tế chính trị Tư sản cổ điển. Ông đứng vững trên cơ sở lý thuyết giá trị – lao động để giải thích các vấn đề lý thuyết kinh tế.Smith đã có công lao trong việc đưa tất cả các quan điểm kinh tế từ trước đó cấu kết lại thành một hệ thống. Thì TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.Ricardo xây dựng hệ thống đó trên một nguyên tắc thống nhất, là thời gian lao động quyết định giá trị hàng hoá.2 Học thuyết về giá của Karl Marx (1818 - 1883).Engels (1820 - 1895) Dựa trên quan điểm lịch sử, Karl Marx thực hiện một cuộc cách mạng về học thuyết giá trị – lao động.
Các nhà kinh tế trước KMarx chỉ phân biệt rõ 2 thuộc tính của hàng hoá: Giá trị sử dụng và giá trị trao đổi có mâu thuẫn. Trái lại, Karl Marx khẳng định, hàng hoá là sự thống nhất biện chứng của hai mặt: Giá trị sử dụng và giá trị. Giá trị sử dụng là công dụng của sản phẩm có thể thoả mãn nhu cầu nào đó của con người. Công dụng của vật phẩm là do thuộc tính tự nhiên của vật chất quyết định.
Giá trị sử dụng là phạm trù vĩnh viễn và là vật mang giá trị trao đổi. Lần đầu tiên, giá trị được xem xét như là quan hệ sản xuất xã hội của những người sản xuất hàng hoá, còn hàng hoá là nhân tố tế bào của xã hội tư sản. Ông đã phân tích tính chất 2 mặt của lao động sản xuất hàng hoá là lao động cụ thể và lao động trừu tượng, lao động tư nhân và lao động xã hội. Ông khẳng định chỉ có lao động trừu tượng tạo ra giá trị hàng hoá.
Giá trị hàng hoá là lao động xã hội của người sản xuất hàng hoá kết tinh trong hàng hoá - chất của giá trị là lao động. Sản phẩm nào lao động hao phí để sản xuất ra chúng càng nhiều thì giá trị càng cao. Giá trị là nội dung, là cơ sở của giá trị trao đổi; còn giá trị trao đổi là hình thức biểu hiện của giá trị ra bên ngoài. Giá trị là một phạm trụ lịch sử gắn liền với sản xuất hàng hoá.
Chất của giá trị là lao động trừu tượng của người sản xuất hàng hoá, kết tinh trong hàng hoá. Lượng giá trị là do lượng lao động hao phí để sản xuất ra hàng hoá đó quyết định, lượng giá trị của hàng hoá do thời gian lao động quyết định. Từ việc phân tích các phạm trù giá trị nêu trên, Karl Marx đã đưa ra định nghĩa về giá cả “Giá cả là sự biểu hiện bằng tiền của giá trị hàng hoá”. Giá cả ở TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 17 đây là giá cả hàng hoá, là mức giá mà được xã hội thừa nhận.
Giá trị hàng hoá là giá trị xã hội, được đo bằng thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất ra hàng hoá, chứ không phải là giá trị cá biệt của từng người sản xuất.3 Lý luận về giá trị của Proudhon và Sismondi 2.1 Lý luận về giá trị của Proudhon (1809 – 1865) Ông coi giá trị là một phạm trù trừu tượng, vĩnh viễn bao gồm hai mặt đối lập nhau: Giá trị sử dụng là hiện thân của sự dồi dào của cải, còn giá trị trao đổi thì thể hiện khuynh hướng khan hiếm của nó. Ông coi sự mâu thuẫn nội tại của hàng hóa là mâu thuẫn giữa sự dồi dào và khan hiếm của cải. Theo ông, để giải quyết mâu thuẫn này cần phải tạo ra một “giá trị pháp lý” (còn gọi là giá trị cấu thành). Giá trị pháp lý được hiểu là: Quá trình trao đổi trên thị trường là một quá trình lựa chọn sản phẩm độc đáo.
Có một số hàng hóa chiếm lĩnh được thị trường, được thực hiện và lại được sản xuất ra và do đó trở thành giá trị. Trong khi đó có một số hàng hóa khác lại không có may mắn như vậy, không được xã hội thừa nhận, do vậy cần phải xác lập trước giá trị để được xã hội chấp nhận. Ông lấy vàng, bạc làm tiền tệ và coi đó là những giá trị pháp lý bởi vì vàng, bạc bao giờ cũng có thể thực hiện được. Lý luận giá trị pháp lý là cơ sở cho ý đồ cải cách của Proudhon nhằm giữ lại sản xuất hàng hoá mà thủ tiêu được mâu thuẫn của nó.
Ví dụ: mâu thuẫn giữa lao động tư nhân và lao động xã hội, giữa hàng hoá và tiền tệ. Đi xa hơn ông tin tưởng có thể phát triển một nền sản xuất hàng hoá mà không có tiền tệ.2 Lý luận về giá trị của Sismondi (1773-1842). Sismondi đứng vững trên lập trường lý luận giá trị - lao động để giải thích các hiện tượng và quá trình kinh tế. Ông đã khẳng định lao động là nguồn gốc của giá trị - thể hiện quan điểm bênh vực người nghèo khổ, những người sản xuất nhỏ.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 18 Ông đưa ra danh từ "Thời gian lao động xã hội cần thiết" và cho rằng: Khi xác định lượng giá trị của hàng hóa không được dựa vào sản xuất cá biệt mà phải dựa vào sản xuất xã hội. Ông vạch rõ mâu thuẫn giữa giá trị và giá cả, ông cho rằng: giá trị và giá cả nhất trí với nhau chỉ trong nền sản xuất nhỏ, từ đó ông đi đến thủ tiêu nền sản xuất tư bản chủ nghĩa - nền sản xuất lớn. Ông coi giá trị tương đối của hàng hóa là phụ thuộc vào cạnh tranh, vào lượng cầu, vào tỷ lệ giữa thu nhập và lượng cung về hàng hóa. Giá trị tuyệt đối hay chân chính của hàng hóa được ông giải thích theo kiểu tự nhiên chủ nghĩa và đi tìm giá trị đó trong một đơn vị kinh tế độc lập.4 Lý thuyết cung – cầu và giá cả Phái tân cổ điển cho rằng, giá cả chỉ là quan hệ về lượng giá hàng hoá và tiền khi trao đổi, do đó người bán, người mua thoả thuận với nhau.
Người mua định giá theo ích lợi giới hạn của sản phẩm, người bán định giá theo chi phí sản xuất. Những người bán đồng nhất với cung, những người mua đồng nhất với cầu trên thị trường.2 Sơ đồ quan hệ cung-cầu hàng hoá - Đường cầu DD’ phản ánh mối quan hệ lượng cầu và giá cả hàng hoá. - Đường cung SS’ phản ánh mối quan hệ lượng cung và giá cả hàng hoá. - Điểm gặp nhau của DD’ và SS’ là phản ánh giá cả cân bằng.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 19 * Độ co giãn của cầu; chỉ sự biến động của cầu trước sự biến động của giá cả. = d/d : P/p Trong đó: K; là hệ số co giãn của cầu d/d; sự biến đổi của cầu P/p; sự biến đổi của giá Khi: >1: Cầu co giãn <1: Cầu không co giãn =1: Cầu thay đổi cùng tỷ lệ với giá. Từ việc nghiên cứu các học thuyết “Giá trị – lao động” của các nhà kinh tế, chúng ta có thể đưa ra khái niệm về giá cả thị trường. Giá cả thị trường là sự biểu hiện bằng tiền của giá trị hàng hoá.
Giá trị thị trường là kết quả của sự san bằng các giá trị cá biệt của hàng hoá trong cùng một ngành thông qua cạnh tranh. Cạnh tranh trong nội bộ ngành dẫn tới sự hình thành một giá trị xã hội trung bình – Cơ sở của giá cả hàng hoá.3 LÝ THUYẾT THÔNG TIN BẤT CÂN XỨNG (ANSYMMETRIC INFORMATION) Lý thuyết thông tin bất cân xứng (Asymmetric Information theory) lần đầu tiên xuất hiện vào những năm 1970 và đã khẳng định được vị trí của mình trong nền kinh tế học hiện đại bằng sự kiện năm 2001, các nhà khoa học nghiên cứu lý thuyết này là George Akerlof, Michael Spence và Joseph Stiglitz cùng vinh dự nhận giải Nobel kinh tế. Trải qua hơn hai thập kỷ, lý thuyết về thị trường có thông tin bất cân xứng đã trở nên vô cùng quan trọng và là trọng tâm nghiên cứu của kinh tế học hiện đại. Thông tin bất cân xứng càng trở nên phổ biến và trầm trọng khi tính minh bạch của thông tin, khả năng tiếp cận thông tin và cơ sở hạ tầng thông tin yếu kém.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 20 Bất cân xứng thông tin có thể xảy ra khi các bên tham gia giao dịch cố tình che đậy thông tin, người đi thuê không có thông tin xác thực, đầy đủ và kịp thời nên dẫn tới trả giá thấp hơn giá trị của tòa nhà. Hậu quả là người cho thuê không còn động lực để duy tu và cải tạo bất động sản và có xu hướng cung cấp những tòa nhà cho thuê với chất lượng kém. Nếu người cho thuê không chịu mức giá khách hàng thuê đề nghị, họ sẽ không cho thuê và chờ đợi những khách hàng tìm năng dẫn đến tỷ lệ bỏ trống của các tòa nhà cao. Trường hợp khách hàng đồng ý với giá cho thuê cao nhưng có thể xảy ra rùi ro đạo đức do người thuê sử dụng văn phòng không sử dụng văn phòng cho thuê cẩn thận và không sử dụng đúng mục đích thuê.