CHƯƠNG 1: TÔNG QUAN Đề cung cấp các cơ sở thông tin cho nghiên cứu dé tài, trong chương này trình bày về tổng quan tài liệu nghiên cứu, tong quan tài nguyên nước TP.HCM; các khái niệm về chỉ thị, chỉ số và khái quát các bộ chỉ thị an ninh môi trường nước. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Tình hình nghiên cứu của một số nước trên Thế giới Viện An ninh môi trường công bố nghiên cứu của Hecker vào năm 2011 về Phát triển hòa bình và bền vững thông qua an ninh môi trường, một phương pháp đánh giá an ninh môi trường. Nghiên cứu đã trình bày về định nghĩa an ninh môi trường, xác định những đối tượng chung giữa một môi trường an ninh và bất an ninh, mối quan hệ giữa môi trường và các xung đột từ đó xây dựng phương pháp đánh giá với các bước xác định danh sách an ninh môi trường, vai trò các yếu t6 trong thực hiện đánh giá an ninh môi trường, các mẫu ứng dụng phương pháp, bảng tổng hợp phương pháp, biên soạn thông tin và xác định các chuyên gia khu vực nghiên cứu, xác định phạm vi, đánh giá phương pháp, lập bang câu hỏi các bên liên quan (Hecker, 2011).
Trong nghiên cứu đánh giá an ninh nước: Quản trị tổng hợp và chỉ thị nước ngọt vào năm 2012 của nhóm tác giả Emma S Norman và cộng sự đã phát triển phương pháp đánh giá chỉ số để đánh giá hiện trạng an ninh nước, tổng hop các biến liên quan chất lượng và số lượng tài nguyên nước cũng như mối quan hệ sinh thái và sức khỏe con người, ứng dụng cho cộng đồng ở British Columbia (Canada). Các tiêu chí trong chất lượng nước được tính toán băng chỉ số chất lượng nước WQI của Hội Đồng Bộ trưởng Môi trường Canada và Hệ thống phân loại lưu vực. Còn đối với tiêu chí số lượng nước được tính toán thông qua nhu câu cấp nước, đánh giá dòng nhạy cảm, chỉ số toàn vẹn sinh học. Cùng với đó nghiên cứu cũng nêu lên các van dé về cân nhac về dữ liệu, nhắn mạnh quá trình lựa chọn các thông số đo đạc phải kịp thời theo thời gian hiện trạng, khoảng trong giữa truy cập dữ liệu, ngăn cách giữa ranh giới hành chính và thủy văn tạo những thách thức về quản trị nước (Norman et al.
, 2013) Trong nghiên cứu khái niệm chỉ số an ninh nước, an ninh tải nguyên nước của Thái Lan trong bỗi cảnh thế giới và khu vực ASEAN của Sucharit Koontanakulvong, 2014 dé xuat và xác định tinh trạng an ninh nước của Thái Lan so với thê giới và các HVTH: Nguyễn An Sang 5 GVHD: PGS. Chế Đình Lý Luận văn cao học nước ASEAN (Koontanakulvong, 2014). Nghiên cứu xem xét mức sử dụng nước trên đầu người và nhóm các nước theo mức GDP để phản ánh tình trạng phát triển tài nguyên nước ở cả quy mô thế giới và Thái Lan, nhưng chưa làm rõ các yêu tố de dọa đến nguồn nước và nghiên cứu trong phạm vi cấp quốc gia chưa nêu bật lên cấp khu vực. Nhóm tác giả Leeuwen và các cộng sự đã nghiên cứu những thách thức của Quản trị tài nguyên nước tại Thành phố Hồ Chí Minh, công bố năm 2015 đã nêu lên các vẫn dé cap bách của thành phố bao gồm gia tăng dân số, đô thị hóa, ô nhiễm và biến đổi khí hậu và đánh giá tình bền vững của quản lý tổng hợp tài nguyên nước tại TP HCM băng chỉ số xanh thành phố (Blue City Index).
Chỉ số xanh là bộ 24 chỉ thị phân vào 8 nhóm trong đó có an ninh nước, chất lượng nước, nước uống, vệ sinh, cơ sở hạ tầng, bên vững khí hậu, đa dạng sinh học va quản tri (Leeuwen et al. VỀ an ninh nước nghiên cứu chỉ đánh giá các chỉ thị về khan hiém và khả năng cung cấp chưa đánh giá day đủ các yếu tố ảnh hưởng đến an ninh nước tại TP HCM. Báo cáo Triển vọng phát triển tài nguyên nước Châu Á năm 2013 và năm 2016 của Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB) xây dựng phương pháp tiếp cận gồm 5 khía cạnh: an ninh nước hộ gia đình, nước kinh tế, nước đô thị, môi trường nước, khả năng phục hồi sau thảm họa để đánh giá an ninh nước quốc gia (ADB, 2016). Đây là cơ sở để nghiên cứu xây dựng các chỉ thị sơ bộ để tính toán chỉ số an ninh môi trường nước tại TP.
Một hệ thống chỉ số đánh giá về an ninh nước ở Trung Quốc dựa trên dữ liệu kinh tế vĩ mô từ năm 2000 đến năm 2012 của nhóm tác giả Li và các cộng sự công bố năm 2016, đã xây dựng các bộ tiêu chí và khung cơ bản của hệ thông đánh giá an ninh nước. Hệ thống đánh giá an ninh nước bao gém các tiêu chí về an ninh chu trình nước (lượng nước bình quân đầu người, lượng mưa trung bình hàng năm, lượng nước ngầm, nước mặt, khu vực bị ảnh hưởng ngập lụt và hạn hán), môi trường chất lượng nước (tần suất sự cố 6 nhiễm nước, lượng phát thai COD, tỷ lệ xử lý nước thải công nghiệp, tỷ lệ chất lượng nước trước và giữa các con sông phát thải amoni và nitrogen, tổng tải lượng phát thải của nước thải, tỷ lệ đầu tư xử lý ô nhiễm, xử lý nước thải đô thị, bao phủ rừng), nước sinh thái (diện tích cây xanh công cộng trên đầu người, tỷ lệ khu bảo tồn thiên nhiên, diện tích kiểm soát xói mòn đất, tỷ lệ tiêu thụ nước, diện tích đất ngập HVTH: Nguyễn An Sang 6 GVHD: PGS. Chế Đình Lý Luận văn cao học nước trên tong diện tích), nước xã hội (tổng lượng nước cấp, đầu tư thu gom nước mưa, độ dài đường ống điều chỉnh cuối năm, tỷ lệ phân phối nước trên dân số, khu bảo tồn, số lượng cơ sở xử lý nước thải, diện tích tưới hiệu quả, ty lệ lợi ích cải cách nước nông thôn, ty lệ tốn that do ngập lụt và mat mùa do hạn hán) và kinh tế (GPD bình quân đầu người, sản lượng lúa, tỷ lệ chỉ phí ăn uống trên tiêu dùng hộ gia đình thành thị và nông thôn, thu nhập ròng, tiêu thụ nước trên GDP, tỷ lệ tái chế nước công nghiệp, tiêu thụ nước bình quân đầu người) (Li et al. Theo Zhang & Xu, trong bài báo “Đánh giá về an ninh sinh thái và môi trường đối với hệ sinh thái trên cạn của Trung Quốc” vào năm 2017 đã nghiên cứu đánh giá các chỉ thị về nước, đất, không khí và đa dạng sinh học đối với các hệ sinh thái trên cạn tại Trung Quốc và thực hiện đánh giá theo không gian (H.
Tuy nhiên các chỉ thị về môi trường nước chỉ thể hiện về mặt số lượng hay khả năng cung cấp nước chưa đưa ra các yêu tố de doa gây ô nhiễm nguén nước. Bài báo chỉ thị an ninh nước đô thị phát triển và thử nghiệm cua Jensen va Wu vào năm 2018 đã nêu bật van dé an ninh như là một thách thức chính sách quan trong và ngày càng cấp bách và việc xây dựng các chỉ thị là cần thiết để thúc đây chính sách thực hiện cũng như đo lường hiệu quả của các giải pháp can thiệp. Các chỉ thị có nhiều khả năng có tác động đến việc xây dựng chính sách khi chúng hợp lệ, đáng tin cậy và noi bật. Nghiên cứu đã phát triển một bộ chỉ thị an toàn nước đô thị nhằm đáp ứng các tiêu chí này, thử nghiệm ở hai thành phố Singapore và Hồng Kông.
Phương pháp xây dựng bao gồm 05 bước: tổng quan các yếu tố nước đô thị, xác định đặc điểm hoạt động của an ninh nước đô thị, thiết lập ranh giới hệ thông, thành lập khung đánh giá an ninh nước đô thị và kiểm tra xác minh (O. Vẫn đề sử dụng các chỉ thị đối với nghiên cứu chỉ tập trung trong tài nguyên, khả năng tiếp cận, rủi ro và quan tri, chưa tạo ra được chi số chung để có thể đánh giá tong hop. HVTH: Nguyén An Sang 7 GVHD: PGS. Chế Dinh Lý Luận văn cao học 1.
Tình hình nghiên cứu trong nước Nhóm nghiên cứu Nguyễn Việt Dũng và Nguyễn Danh Tĩnh vào năm 2006 đã nghiên cứu tài liệu và mô hình thành công trong Quản lý tài nguyên nước dựa vào cộng đồng ở Việt Nam gồm các mô hình truyền thống (Nước là tài sản chung) với các mô hình tiên tiễn (Nước là một loại hàng hóa). Mặc dù nghiên cứu chỉ ra sự tham gia của cộng đồng rất quan trọng nhưng vẫn chưa dé cập đến van dé làm sao cộng đồng nhận thức và định lượng các vấn đề về tài nguyên nước để sự tham gia của họ đạt hiệu quả (Nguyễn Việt Dũng & Nguyễn Thanh Tĩnh, 2006) Trong nghiên cứu Hệ thống chỉ thị và chỉ số môi trường để đánh giá và so sánh hiện trạng môi trường giữa các thành phố trên lưu vực sông của tác giả Chế Đình Lý công bố năm 2006, dựa trên mô hình áp lực trạng thái đáp ứng (PSR) phân tích các van dé hiện trạng môi trường đồng thời nêu bật phân biệt giữa chi thị và chỉ số môi trường để xây dựng hệ thống chỉ số - chỉ thị môi trường về bảo vệ nguồn nước trên các lưu vực sông. Nghiên cứu cũng chỉ ra 05 nguyên lý cho việc lựa chọn các chỉ thị môi trường cho lưu vực sông gồm phù hợp lưu vực, dữ liệu có ích có thể diễn đạt, bền vững lâu dài, bộ các chỉ thị và dữ liệu có thể tiếp cận và sử dụng được (Chế Dinh Ly, 2006). Tuy nhiên nghiên cứu chỉ đưa ra lộ trình xây dựng và gợi ý một số chỉ thị mà chưa đưa ra tính toán cụ thể cho một khu vực nghiên cứu.
Bai báo “Định giá nước và phân phối tối ưu tai nguyên nước khan hiểm ở cấp độ lưu vực sông — Thử nghiệm ở vùng hạ lưu hệ thống sông Đồng Nai” của Nguyễn Thanh Hùng ở Viện Tài nguyên Môi trường công bố năm 2013 bước dau định giá tài nguyên nước dé góp phan phân phối cho các nhu cau sử dụng nước hiệu qua, cân bang lợi ích ròng ở biên với 7 nhóm sử dụng nước chính ở vùng hạ lưu (Nguyễn Thanh Hùng, 2013). Tuy nhiên bài báo chỉ đánh giá về mặt hiệu quả kinh tế chưa đề cập vấn dé ô nhiễm. nguy cơ an ninh môi trường nước.