CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT. MỐI QUAN HỆ CỦA THAM NHŨNG VÀ FDI TRONG CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 1. Khái niệm đầu tư trực tiếp nước ngoài Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là một hoạt động kinh doanh quốc tế dựa trên cơ sở của quá trình dịch chuyển tư bản giữa các nước, chủ yếu do các pháp nhân hoặc thể nhân thực hiện theo hình thức nhất định; trong đó chủ đầu tư tham gia trực tiếp vào quá trình điều hành, quản lý và sử dụng vốn đầu tư. Theo Wikipedia: FDI là hình thức đầu tư dài hạn của cá nhân hay công ty nước ngoài và nước khác bằng cách thiết lập cơ sở sản xuất, kinh doanh.
Cá nhân hay công ty nước ngoài đó sẽ nắm quyền sản xuất kinh doanh cơ sở này. Theo IMF: FDI là hình thức đầu tư ra khỏi biên giới nước, trong đó người đầu tư trực tiếp đạt được một phần hay toàn bộ quyền sở hữu lâu dài một doanh nghiệp ở một nước khác. Quyền sở hữu này tối thiểu phải là 10% tổng số cổ phần của doanh nghiệp. Các lợi ích lâu dài này ngụ ý sự tồn tại của một mối quan hệ lâu dài giữa các nhà đầu tư trực tiếp, doanh nghiệp và một mức độ đáng kể ảnh hưởng đến quản lý của doanh nghiệp.
Đầu tư trực tiếp liên quan đến cả giao dịch ban đầu giữa hai thực thể và tất cả các giao dịch vốn giữa họ và giữa các doanh nghiệp trực thuộc, trong trường hợp cả hai đã hợp nhất hay vẫn chưa hợp nhất. Theo tổ chức thương mại thế giới WTO: “FDI xảy ra khi một nhà đầu tư từ một nước (nước đầu tư) có được một tài sản ở một nước khác (nước thu hút đầu tư, hoặc nước chủ nhà) cùng với quyền quản lý tài sản đó. Phương diện quản lý là thứ để phân biệt FDI với các công cụ tài chính khác. Trong phần lớn trường hợp, cả nhà đầu tư lẫn tài sản mà họ quản lý ở nước ngoài là các công ty kinh doanh.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 Trong những trường hợp đó, nhà đầu tư thường hay được gọi là "công ty mẹ" và các tài sản được gọi là "công ty con" hay "chi nhánh công ty". Theo Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1987: “Đầu tư trực tiếp nước ngoài là việc một tổ chức, cá nhân nước ngoài đưa vào Việt Nam bằng tiền nước ngoài hoặc bất kỳ tài sản nào được Chính phủ Việt Nam chấp nhận để hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp dồng hoặc thành lập xí nghiệp liên doanh hoặc doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài theo quy định của Luật này”. Tóm lại: FDI là một khoản đầu tư với những quan hệ lâu dài theo đó một tổ chức trong một nền kinh tế (nhà đầu tư trực tiếp) thu được lợi ích lâu dài từ một doanh nghiệp đặt tại một nền kinh tế khác. Đặc điểm của nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài Dunning (1993) đã chỉ ra có 3 nhân tố chính của dòng vốn FDI là dựa vào động cơ sau sự đầu tư đó là sự trông mong của các nhà đầu tư.
Yếu tố thứ nhất của dòng vốn FDI đó chính là tìm kiếm thị trường (market-seeking). Dòng vốn FDI này chủ yếu hướng tới các thị trường trong nước và trong khu vực hay còn gọi là dòng vốn FDI thay thế. Dòng vốn FDI thứ hai đó là dòng vốn tìm kiếm nguồn lực (resource-seeking), dòng vốn này nhằm hướng đến tìm kiếm nguồn tài nguyên thiên nhiên, nguồn lao động rẻ. Một dòng vốn nữa đó là tìm kiếm hiệu quả (efficiency-seeking).
Do đó, nguồn vốn FDI có những đặc điểm sau: - Chênh lệch về năng suất cận biên của vốn các nước. Helpman và Sibert, Richard S.Eckaus cho rằng có sự khác nhau về năng suất cận biên (số có thêm trong tổng số đầu ra mà một nhà sản xuất có được do dùng thêm một đơn vị của yếu tố sản xuất) của vốn giữa các nước. Một nước thừa vốn thường có năng suất cận biên thấp hơn, còn một nước thiếu vốn thường có năng suất cận biên cao hơn. Tình trạng này sẽ dẫn đến sự di chuyển dòng vốn từ nơi dư thừa sang nơi khan hiếm nhằm tối đa hóa lợi nhuận.
Vì chi phí sản xuất của các nước thừa vốn thường cao hơn các nước thiếu vốn. Tuy nhiên như vậy không có nghĩa là tất cả những hoạt động nào có năng xuất cận biên cao mới được doanh nghiệp đầu tư LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 sản xuất mà cũng có những hoạt động quan trọng, là sống còn của doanh nghiệp thì họ vẫn tự sản xuất cho dù hoạt động đó cho năng suất cận biên thấp. - Chu kỳ sản phẩm. Đối với hầu hết các doanh nghiệp tham gia kinh doanh quốc tế thì chu kỳ sống của các sản phẩm này bao gồm 3 giai đoạn chủ yếu là: giai đoạn sản phẩm mới; giai đoạn sản phẩm chín muồi và giai đoạn sản phẩm chuẩn hóa.
Akamtsu Kaname (1962) cho rằng sản phẩm mới, ban đầu được phát minh và sản xuất ở nước đầu tư, sau đó mới được xuất khẩu ra thị trường nước ngoài. Tại nước nhập khẩu, ưu điểm của sản phẩm mới làm nhu cầu trên thị trường bản địa tăng lên, nước nhập khẩu chuyển sang sản xuất để thay thế sản phẩm nhập khẩu này bằng cách chủ yếu dựa vào vốn, kỹ thuật của người ngoài (giai đoạn sản phẩm chín muồi). Khi nhu cầu thị trường của sản phẩm mới trên thị trường trong nước bão hòa, nhu cầu xuất khẩu lại xuất hiện (giai đoạn chuẩn hóa). Hiện tượng này diễn ra theo chu kỳ và do đó dẫn đến sự hình thành FDI.
Raymond Vernon (1966) lại cho rằng khi sản xuất một sản phẩm đạt tới giai đoạn chuẩn hóa trong chu kỳ phát triển của mình cũng là lúc thị trường sản phẩm này có rất nhiều nhà cung cấp. Ở giai đoạn này, sản phẩm ít được cải tiến, nên cạnh tranh giữa các nhà cung cấp dẫn tới quyết định giảm giá và sau đó dẫn tới quyết định cắt giảm chi phí sản xuất. Đây là lý do để các nhà cung cấp chuyển sản xuất sản phẩm sang những nước cho phép chi phí sản xuất thấp hơn. - Lợi thế đặc biệt của các công ty đa quốc gia.
(1987) và một số người cho rằng các công ty đa quốc gia có những lợi thế đặc thù (chẳng hạn năng lực cơ bản) cho phép công ty vượt qua những trở ngại về chi phí ở nước ngoài nên họ sẵn sàng đầu tư trực tiếp ra người ngoài. Khi chọn địa điểm đầu tư, những công ty đa quốc gia sẽ chọn nơi nào có các điều kiện cho phép họ phát huy các lợi thế đặc thù nói trên. Những công ty đa quốc gia thường có lợi thế lớn về vốn và công nghệ đầu tư ra các nước có sẵn nguồn nguyên liệu, giá nhân công rẻ và thường là thị trường tiêu thụ tiềm năng. Nhưng đồng thời, môi trường đầu tư cũng phải đảm bảo những tiêu chí nhất định để hoạt động của doanh nghiệp thành công.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 - Tiếp cận thị trường và giảm xung đột thương mại. Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài là một biện pháp để tránh xung đột thương mại song phương. Ví dụ, Nhật Bản hay bị Mỹ và các nước Tây Âu phàn nàn do Nhật Bản có quan hệ thặng dư thương mại còn các nước kia bị thâm hụt thương mại trong quan hệ song phương. Để đối phó, Nhật Bản đã tăng cường đầu tư trực tiếp vào các thị trường đó.
Họ sản xuất và bán ô tô, máy tính ngay tại Mỹ và Châu Âu, để giảm xuất khẩu các sản phẩm này từ Nhật Bản sang. Họ còn đầu tư trực tiếp vào các nước thứ ba, từ đó xuất khẩu sang thị trường Bắc Mỹ và Châu Âu. - Khai thác chuyển giao công nghệ. Không phải FDI chỉ đi theo hướng từ nước phát triển hơn sang nước kém phát triển hơn, chiều ngược lại thậm chí còn mạnh mẽ hơn nữa.
- Tiếp cận nguồn tài nguyên thiên nhiên. Để có nguồn nghiên liệu thô, nhiều công ty đa quốc gia tìm các đầu tư vào những nước có nguồn tài nguyên phong phú. Làn sóng đầu tư trực tiếp ra người ngoài của Nhật Bản và thập nhiên 1950 là vì mục đích này. FDI của Trung Quốc hiện nay cũng có mục đích tương tự.2 Khái niệm tham nhũng Tham nhũng thường được định nghĩa theo nghĩa hẹp như là hành động lạm dụng quyền hạn để chuộc lợi cho bản thân (Roy & Oliver, 2009).
Định nghĩa này bị bác bỏ trong các báo cáo đo lường về Chỉ số nhận thức tham nhũng của các nước (Transparency International, 2010). Ví dụ như tham nhũng trong khu vực công sẽ tác động phá hủy dần dần lên tính thống nhất trong toàn bộ hệ thống của một nước: nó có thể làm giảm hiệu quả hoạt động, bóp méo chính sách công, làm chậm quá trình truyền dẫn thông tin, tác động làm giảm thu nhập nhận được và gia tăng tình trạng nghèo nàn của toàn bộ nước đó (Chen, Ding, & Kim, 2010). Theo Tổ chức Minh bạch Quốc tế (Transparency International) tham nhũng là lợi dụng quyền hành để gây phiền hà, khó khăn và lấy của dân. Tham ô là hành vi lợi dụng quyền hành để lấy cắp của công.
Tham nhũng và tham ô là một hệ quả tất yếu của nền kinh tế kém phát triển, quản lý kinh tế - xã hội lỏng LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 lẻo, yếu kém tạo ra nhiều sơ hở cho các hành vi tiêu cực, hiện tượng tham nhũng và các tệ nạn có điều kiện phát triển và tại đó một phần quyền lực chính trị được biến thành quyền lực kinh tế. Tham nhũng và tham ô làm chậm sự phát triển kinh tế-xã hội, làm giảm lòng tin của công dân vào nhà nước, đến chừng mực nào đó nó gây mất ổn định chính trị, kinh tế - xã hội. Theo tài liệu đào đạo của Thanh tra Chính Phủ Việt Nam tham nhũng được hiểu là hành vi của bất kỳ người nào có chức vụ, quyền hạn hoặc được giao nhiệm vụ, quyền hạn và lợi dụng chức vụ, quyền hạn, hoặc nhiệm vụ được giao để vụ lợi. Theo Từ điển Tiếng Việt, tham nhũng là lợi dụng quyền hành để nhũng nhiễu nhân dân lấy của.
Tài liệu hướng dẫn của Liên hợp quốc về cuộc đấu tranh quốc tế chống tham nhũng (năm 1969) định nghĩa tham nhũng trong một phạm vi hẹp, đó là sự lợi dụng quyền lực nhà nước để trục lợi riêng. Theo pháp luật Việt Nam quy định (tại Luật phòng, chống tham nhũng năm 2005), tham nhũng là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn đó vì vụ lợi.