Luận văn thạc sĩ hay chế tạo vật liệu bentonit fe3o4 bằng phương pháp hóa siêu âm ứng dụng trong hấp phụ methylene xanh trong nước

Luận văn thạc sĩ phân tích hay chế tạo vật liệu bentonit fe3o4 bằng phương pháp hóa siêu âm ứng dụng trong hấp phụ methylene, đánh giá thực trạng, chỉ ra hạn chế, đề xuất giải

Chuyên ngành

Hóa Học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2020

63
3
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

1.1. Giới thiệu về vật liệu bentonit/Fe3O4

1.2. Vật liệu Fe3O4

1.3. Phương pháp hóa siêu âm

1.4. Phương pháp xử lý nguồn nước bị ô nhiễm

1.5. Mô hình hấp phụ đẳng nhiệt

1.5.1. Đẳng nhiệt Langmuir

1.5.2. Đường đẳng nhiệt Freundlich

1.5.3. Đường đẳng nhiệt Dubinin-Radushkevich

1.6. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước

1.7. Dụng cụ, hóa chất

1.8. Tổng hợp Bentonit/Fe3O4

1.9. Khảo sát tính chất tính chất vật lý, đặc điểm bề mặt của vật liệu

1.9.1. Phương pháp sử dụng kính hiển vi điện tử quét

1.9.2. Phương pháp nhiễu xạ tia X

1.9.3. Phương pháp phổ hồng ngoại hấp thụ

1.9.4. Phương pháp phổ UV-Vis

1.9.5. Phương pháp BET xác định diện tích bề mặt riêng

1.9.6. Phương pháp từ kế mẫu rung

1.10. Nghiên cứu khả năng hấp phụ MB theo phương pháp hấp phụ tĩnh

2. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

2.1. Hình thái, cấu trúc của vật liệu

2.1.1. Hình thái bề mặt

2.1.2. Cấu trúc của vật liệu

2.2. Tính chất bề mặt và cấu trúc mao quản của vật liệu

2.3. Tính chất từ của vật liệu

2.4. Đường chuẩn xác định nồng độ của MB

2.5. Nghiên cứu khả năng hấp phụ của vật liệu theo phương pháp hấp phụ tĩnh

2.6. Điểm đẳng điện của vật liệu

2.7. Ảnh hưởng của pH

2.8. Ảnh hưởng của thời gian hấp phụ

2.9. Ảnh hưởng của khối lượng vật liệu

2.10. Ảnh hưởng của nồng độ MB ban đầu

2.11. Ảnh hưởng của nhiệt độ

2.12. Khảo sát một số mô hình đẳng nhiệt hấp phụ

2.12.1. Mô hình đẳng nhiệt hấp phụ Langmuir

2.12.2. Mô hình đẳng nhiệt hấp phụ Friundlich

CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ CÓ LIÊN QUAN ĐỀN ĐỀ TÀI

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Chế Tạo Vật Liệu Bentonit Fe3O4

Chế tạo vật liệu bentonit/Fe3O4 bằng phương pháp hóa siêu âm là một lĩnh vực nghiên cứu đang thu hút sự quan tâm lớn trong ngành hóa học. Vật liệu này không chỉ có khả năng hấp phụ tốt mà còn có tính từ tính, giúp dễ dàng tách ra sau khi sử dụng. Nghiên cứu này nhằm mục đích phát triển một phương pháp hiệu quả để xử lý nước ô nhiễm, đặc biệt là nước chứa methylene xanh.

1.1. Đặc Điểm Của Vật Liệu Bentonit

Bentonit là một loại đất sét tự nhiên có khả năng hấp thụ nước cao. Nó có cấu trúc lớp smectite, giúp tăng cường khả năng hấp phụ. Việc biến tính bentonit có thể nâng cao tính chất vật liệu, tạo ra diện tích bề mặt lớn hơn.

1.2. Tính Chất Của Fe3O4 Trong Nghiên Cứu

Vật liệu Fe3O4 có tính từ tính mạnh và ổn định trong môi trường nước. Nghiên cứu cho thấy rằng việc sử dụng Fe3O4 có thể cải thiện đáng kể khả năng hấp phụ của bentonit đối với các hợp chất hữu cơ như methylene xanh.

II. Vấn Đề Ô Nhiễm Nước Và Cần Thiết Phải Xử Lý

Ô nhiễm nước là một trong những vấn đề nghiêm trọng hiện nay, đặc biệt là từ các ngành công nghiệp như dệt may. Methylene xanh là một trong những chất nhuộm phổ biến gây ô nhiễm nước. Việc xử lý nước thải chứa methylene xanh là rất cần thiết để bảo vệ môi trường và sức khỏe con người.

2.1. Tác Động Của Methylene Xanh Đến Môi Trường

Methylene xanh có thể gây ra nhiều tác hại cho sinh vật và con người. Khi xâm nhập vào nguồn nước, nó có thể gây ra các vấn đề về sức khỏe như kích ứng da và mắt, thậm chí là ung thư.

2.2. Các Phương Pháp Xử Lý Nước Ô Nhiễm

Có nhiều phương pháp xử lý nước ô nhiễm, bao gồm hấp phụ, keo tụ, và điện phân. Trong đó, phương pháp hấp phụ với vật liệu tự nhiên như bentonit đang được nghiên cứu nhiều do hiệu quả và tính kinh tế.

III. Phương Pháp Hóa Siêu Âm Trong Chế Tạo Vật Liệu

Phương pháp hóa siêu âm là một kỹ thuật tiên tiến giúp tăng cường quá trình chế tạo vật liệu bentonit/Fe3O4. Bằng cách sử dụng sóng siêu âm, quá trình phản ứng hóa học diễn ra nhanh chóng và hiệu quả hơn, tạo ra vật liệu có cấu trúc xốp và diện tích bề mặt lớn.

3.1. Nguyên Lý Của Phương Pháp Hóa Siêu Âm

Phương pháp hóa siêu âm dựa trên hiệu ứng cavitation, giúp tạo ra các bọt khí trong dung dịch, từ đó tăng cường khả năng khuếch tán và phản ứng hóa học.

3.2. Lợi Ích Của Việc Sử Dụng Hóa Siêu Âm

Việc sử dụng hóa siêu âm không chỉ giúp tăng tốc độ phản ứng mà còn giảm thiểu việc sử dụng hóa chất độc hại, tạo ra sản phẩm an toàn hơn cho môi trường.

IV. Kết Quả Nghiên Cứu Về Khả Năng Hấp Phụ

Nghiên cứu đã chỉ ra rằng vật liệu bentonit/Fe3O4 có khả năng hấp phụ methylene xanh rất tốt. Các thí nghiệm cho thấy rằng hiệu suất hấp phụ tăng lên đáng kể khi sử dụng vật liệu này so với bentonit chưa biến tính.

4.1. Khảo Sát Tính Chất Vật Liệu Sau Khi Chế Tạo

Các phương pháp phân tích như nhiễu xạ tia X và kính hiển vi điện tử quét đã được sử dụng để khảo sát hình thái và cấu trúc của vật liệu sau khi chế tạo.

4.2. Đánh Giá Hiệu Suất Hấp Phụ Methylene Xanh

Kết quả cho thấy rằng vật liệu có khả năng hấp phụ cao, với dung lượng hấp phụ đạt được lên đến 90% trong các điều kiện thí nghiệm tối ưu.

V. Kết Luận Và Triển Vọng Tương Lai

Nghiên cứu về chế tạo vật liệu bentonit/Fe3O4 bằng phương pháp hóa siêu âm đã mở ra hướng đi mới trong việc xử lý nước ô nhiễm. Vật liệu này không chỉ hiệu quả trong việc hấp phụ methylene xanh mà còn có tiềm năng ứng dụng rộng rãi trong các lĩnh vực khác.

5.1. Tương Lai Của Vật Liệu Hấp Phụ

Với những ưu điểm vượt trội, vật liệu này có thể được phát triển thêm để xử lý nhiều loại ô nhiễm khác trong nước, từ đó góp phần bảo vệ môi trường.

5.2. Đề Xuất Nghiên Cứu Tiếp Theo

Cần tiếp tục nghiên cứu để tối ưu hóa quy trình chế tạo và mở rộng ứng dụng của vật liệu trong các lĩnh vực khác như y tế và công nghiệp.

18/07/2025
Luận văn thạc sĩ hay chế tạo vật liệu bentonit fe3o4 bằng phương pháp hóa siêu âm ứng dụng trong hấp phụ methylene xanh trong nước

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN 1. Giới thiệu về vật liệu bentonit/Fe3O4 1. Bentonit Bentonite là sản phẩm thương mại của toàn bộ các loại đất sét trong tự nhiên có khả năng trương nở nhờ hấp thụ nước tốt chủ yếu gồm các montmorillonite. Trong đó montmorillionite là nhóm các chất khoáng mềm hình thành khi chúng kết tủa từ dung dịch nước dưới dạng tinh thể siêu nhỏ được gọi là đất sét.

Nó là một thành viên của nhóm smectite, là loại sét 2:1 nghĩa là nó gồm 1 lớp bát diện Al2O3 nằm kẹp giữa 2 lớp tứ diện SiO2. Về cơ bản, thành phần chính của bentionite gồm Al2O3, SiO2 và nước và tùy vào tỉ lệ thành phần mà chia thành 3 loại, đó là montmorilonit; baydenlit; nontronite với các công thức hóa học được biểu diễn lần lượt là: Al2Si4O10(OH)2.nH2O; Al3Si3O9(OH)3.nH2O, tỷ lệ Si: (Al, Fe) là 2:1. Ngoài thành phần chính, các bentonite khác nhau được đặt tên theo nguyên tố chi phối tương ứng, chẳng hạn như kali (Kali bentonit), natri (Natri bentonit), canxi (canxi bentonit) và nhôm (nhôm bentonit). Natri bentonite nở ra khi ướt, hấp thụ gấp nhiều lần khối lượng khô của nó trong nước.

Do tính chất keo tuyệt vời [40] nó thường được sử dụng trong việc khoan bùn cho giếng dầu và khí đốt và các lỗ khoan để điều tra địa kỹ thuật và môi trường. Vật liệu Fe3O4 Trong tự nhiên, ở nhiệt độ phòng, sắt là vật liệu có từ độ bão hòa lớn, chúng không độc đối với cơ thể người và tính ổn định khi làm việc trong môi trường không khí. Chính vì vậy nano từ được quan tâm nghiên cứu nhiều để ứng dụng trong việc xử lý môi trường nước bị ô nhiễm. Các nghiên cứu cho thấy vật liệu Fe3O4 ở kích thước nano có cấu trúc tinh thể không đổi so với vật liệu khối [47].

Kết quả khảo sát đặc trưng bằng nhiễu xạ tia X chứng minh các 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hạt nano Fe3O4 có cấu trúc spinel đảo. Khi kích thước vật liệu từ giảm đến cỡ nano mét thì số nguyên tử trên bề mặt lớn hơn so với tổng số nguyên tử của vật liệu, do đó hiệu ứng bề mặt đóng vai trò quan trọng và ảnh hưởng nhiều đến tính chất từ. Hiệu ứng bề mặt làm giảm mômen từ bão hòa và là nguyên nhân chính đóng góp vào giá trị dị hướng tổng cộng trong các hạt nano Fe3O4 [38]. Mô hình lõi vỏ của một hạt nano từ [41] Các hạt nano từ được xem như các quả cầu với phần lõi có cấu trúc spin định hướng song song và từ độ bão hòa tương tự như của mẫu khối đơn tinh thể lý tưởng nhưng phần vỏ lại có cấu trúc spin bất trật tự do các sai lệch về cấu trúc tinh thể và sự khuyết thiếu các ion [30].

Do đó có thể coi từ độ phần vỏ bé hơn nhiều so với phần lõi. Khi kích thước hạt giảm, phần vỏ không từ đóng góp đáng kể vào toàn bộ thể tích của hạt làm mômen từ giảm, dẫn đến giá trị từ độ bão hòa trong các hạt nano oxit sắt thường nhỏ hơn trong vật liệu khối. Có nhiều phương pháp hiện đang được sử dụng chế tạo hạt nano Fe3O4 như phương pháp đồng kết tủa, phương pháp sol-gel, phương pháp thủy nhiệt và phương pháp phân hủy nhiệt (tổng hợp trong dung môi hữu cơ ở nhiệt độ sôi cao). Trong số các phương pháp vừa nêu, phương pháp đồng kết tủa được sử dụng phổ biến nhất do tính đơn giản, rẻ tiền và ít gây ảnh hưởng tới môi trường.

Hạn chế của nó là hạt được chế tạo theo phương pháp này thường có phân bố kích thước rộng bởi sự phát triển hạt phụ thuộc vào động năng khuếch tán của các ion. Tuy nhiên, nếu khống chế tốt các điều kiện tổng hợp như: pH 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com và nồng độ ion trong dung dịch có thể thu được hạt có kích thước như mong muốn đồng thời làm thay đổi diện tích bề mặt của các hạt đã được hình thành. Thông thường có hai cách để tạo oxit sắt bằng phương pháp này đó là 1) hydroxide sắt bị ô xi hóa một phần bằng một chất oxi hóa nào đó và 2) già hóa hỗn hợp dung dịch có tỉ phần hợp thức Fe+2 và Fe+3 trong dung môi nước. Phương pháp thứ nhất có thể thu được hạt nano có kích thước từ 30 nm - 100 nm [53].

Phương pháp thứ hai có thể tạo hạt nanô có kích thước từ 2 nm - 15 nm [41]. Có thể nhận thấy, để thu được Fe3O4 cần thiết phải ôxi hóa muối sắt và biến chúng thành magnetite Fe3O4. Sau khi phản ứng xảy ra ta thu được hạt nanô Fe3O4 với từ độ bão hòa có thể đến 80 emu/g, cao gần bằng giá trị của Fe3O4 ở dạng khối. Dựa trên phân tích này chúng tôi giả thiết rằng có thể sử dụng năng lượng nhiệt của sóng siêu âm để vừa tách các tấm bentonit ra vừa có thể đồng thời tạo phản ứng ôxi hóa muối sắt và biến chúng thành magnetite Fe3O4.

Do đó trong nghiên cứu này chúng tôi lựa chọn phương pháp đồng kết tủy kết hợp với rung siêu âm để chế tạo vật liệu Fe3O4/bentonit. Phương pháp hóa siêu âm Phương pháp hóa siêu âm là phương pháp sử dụng sóng siêu âm (tần số từ 20 kHz đến 10 MHz) để hỗ trợ cho phản ứng hóa học. Phương pháp này đã được ứng dụng nhiều để tổng hợp các nano oxit kim loại, kim loại cũng như các vật liệu gốm [58]. Ảnh hưởng hóa học của sóng siêu âm được dựa trên hiệu ứng cavitation (sự tạo và vỡ bọt) chỉ diễn ra trong môi trường dung dịch.

Do đó phương pháp này không sử dụng được nên phản ứng hóa học của hệ rắn hay rắn-khí. Phương pháp này khá tiện lợi, thân thiện với môi trường, các nguyên liệu sử dụng không cần qua xử lí nhiệt hay cần thêm các chất hoạt động bề mặt. Thực tế, các hạt nano từ tính dựa trên oxit sắt đã được chế tạo bằng hóa siêu âm [54]. Đây là phương pháp rất đơn giản để tạo hạt nanô từ tính với từ độ bão hòa rất cao [1].

Muối iron (II) acetate được cho vào trong nước cất hai lần rồi cho chiếu xạ siêu 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com âm với công suất khoảng 200 W/2 h trong môi trường bảo vệ. Sóng siêu âm được tác dụng dưới dạng xung để tránh hiện tượng quá nhiệt do siêu âm tạo ra. Khi tác dụng siêu âm, trong dung dịch sẽ xuất hiện các chất có tính khử và tính ôxi hóa như H2, hydrogen peroxide (H2O2). Các sản phẩm trung gian năng lượng cao có thể là H2O2 (superoxide), hydro nguyên tử, hydroxyl và điện tử.

Các chất này sẽ ôxi hóa muối sắt và biến chúng thành magnetite Fe3O4 [54], [1]. Phương pháp xử lý nguồn nước bị ô nhiễm Nước được sử dụng hàng ngày trong sinh hoạt, công nghiệp với các nguồn nước được lấy từ hồ, các con sông và mạch nước ngầm; và sau khi chúng ta sử dụng và làm ô nhiễm nguồn nước đó phần lớn lại quay trở lại những địa điểm này. Nếu không được xử lý trước khi thải vào đường thủy, kết quả là sự ô nhiễm nghiêm trọng [42]. Nhận thức được vai trò quan trọng của việc xử lý nguồn nước, con người đã có nhiều các phương pháp khác nhau: Phương pháp truyền thống nó bao gồm sự kết hợp giữa vật lý, hóa học và sinh học để loại bỏ chất rắn, chất hữu cơ, đôi khi là chất dinh dưỡng từ nước thải.

Theo mức độ xử lý chúng ta có thể phân chia thành các cấp: sơ bộ, sơ cấp, thứ cấp, cấp cao. Trong việc xử lý sơ bộ, mục tiêu là loại bỏ các chất rắn thô, các vật liệu lớn khác thường được tìm thấy trong nước thải thô. Xử ý sơ cấp được thiết kế để loại bỏ các chất rắn vô cơ, hữu cơ bằng quá trình lắng và tuyển nổi. Khoảng 25 đến 50% là đến từ nhu cầu oxi hóa (BOD, 50 đến 70 % là chất rắn lơ lửng và 65 % dầu mỡ được loại bỏ trong quá trình xử lý này.

Một số nitơ hữu cơ, photpho hữu cơ và kim loại nặng liên quan đến chất rắn cũng bị loại bỏ trong quá trình lắng sơ cấp nhưng không loại bỏ được thành phần keo và chất hòa tan. Trong xử lý thứ cấp, là xử lý thêm nước thải từ xử lý sơ cấp để loại bỏ các chất hữu cơ còn sót lại và chất rắn lơ lửng. Về kích thước của chất rắn, sự phân bố xấp xỉ 30%, chất keo 6% và chất rắn hòa tan khoảng 65%. Nước thải sau xử lý thứ cấp chủ yếu chứa chất hữu cơ và vô cơ hòa tan.

Quá trình xử lý thứ cấp bao gồm xử lý sinh học nước thải bằng 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com cách sử dụng nhiều loại vi sinh vật khác nhau trong môi trường được kiểm soát. Một số quá trình sinh học hiếu khí được sử dụng để xử lý thứ cấp với các cách khác nhau chủ yếu ở cách cung cấp oxy cho vi sinh vật và tốc độ sinh vật chuyển hóa chất hữu cơ. Xử lý sơ cấp vào thứ cấp loại bỏ phần lớn chất BOD và huyền phù trong nước nhưng một số trường hợp đã được chứng minh là không đủ để bảo vệ nguồn nước được tiếp nhận hoặc cung cấp cho tái sử dụng nước cho công nghiệp và sinh hoạt. Do đó cần thêm bước xử lý xa hơn, tiên tiến hơns bao gồm các loại xử lý: xử lý cấp độ ba; xử lý hóa lý; và xử lý lý - sinh kết hợp.

Hiện nay, sự hiện diện của thuốc nhuộm trong nước thải là mối quan tâm chính ảnh hưởng xấu đến nhiều dạng sống. Việc xả thuốc nhuộm ra môi trường sống là một vấn đề quan tâm bao gồm cả lý do độc tính và tính thẩm mĩ [35]. Các ngành công nghiệp như dệt may, da, giấy, nhựa, v.v, sử dụng thuốc nhuộm để tạo màu có sản phẩm và chúng tiêu thụ một lượng nước đáng kể. Kết quả là chúng thải một lượng nước màu lớn [45].

Ước tính có khoảng trăm ngàn loại thuốc nhuộm thương mại với hơn 700.000 tấn được sản xuất hàng năm [31]. Người ta nhận ra rằng nhận thức của người dân về chất lượng nước bị ảnh hưởng rất nhiều bởi màu trong nước. Màu là chất gây ô nhiễm đầu tiên có thể dễ nhận ra trong nước thải. Sự hiện diện của một lượng rất nhỏ thuốc nhuộm trong nước - dưới 1 ppm đối với một số thuốc nhuộm dễ dàng được quan sát bằng mắt thường [37].

Methylene blue (MB) là chất được sử dụng phổ biến nhất để nhuộm bông, gỗ và lụa.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ