Đặt vấn đề Nuôi trồng thủy sản đƣợc coi là ngành sản xuất thực phẩm quan trọng trong việc cung cấp protein động vật cho nhu cầu tiêu dùng của con ngƣời. Trong hai mƣơi năm qua, ngành nuôi trồng thủy sản đã tăng trƣởng nhanh chóng, đƣợc coi ngành có tốc độ tăng trƣởng cao nhất trong các ngành sản xuất thực phẩm. Tại Châu Âu, sản lƣợng nuôi trồng thủy sản dự đoán vƣợt mức 2,5 triệu tấn trong năm 2015 và đạt mức 4 triệu tấn trong năm 2030. Các nƣớc khu vực châu Á Thái Bình Dƣơng là các nƣớc có sản lƣợng nuôi trồng thủy sản cao nhất trên thế giới, chiếm 89% về khối lƣợng.
Tại Việt Nam ngành nuôi trồng thủy sản đã và đang thu hút nhiều ngƣời tham gia và cũng đã đóng góp đáng kể vào sự tăng trƣởng kinh tế. Tuy nhiên, nuôi trồng thủy sản cũng đang phải đối mặt với thực trạng hết sức khó khăn hiện nay là sự nhiễm bẩn môi trƣờng nuôi và dịch bệnh ở tôm, cá đã gây thiệt hại nặng nề cho ngƣời nuôi. Khi ao đầm nuôi bị nhiễm bẩn là cơ hội tốt cho nhóm vi sinh vật có hại phát triển mạnh mẽ, không kiểm soát đƣợc và hậu quả là vật nuôi bị bệnh. Có khi bệnh phát thành dịch do lây lan.
Đặc biệt nhóm bệnh cơ hội do Vibrio gây ra nhƣ bệnh phát sáng, bệnh đen mang, bệnh ăn mòn vỏ kitin, bệnh mòn đuôi, cụt râu chỉ phát sinh khi nƣớc nuôi bị nhiễm bẩn. Nguyên nhân gây ô nhiễm của ao đầm nuôi trồng thủy sản là do lƣợng thức ăn thừa cùng với uế thải hữu cơ và phế thải do lột xác để duy trì hoạt động sống của tôm cùng với xác của động vật thủy sinh phù du là những yếu tố làm cho ao nuôi bị nhiễm bẩn, bên cạnh đó việc sử dụng hóa chất, kháng sinh để phòng ngừa bệnh và xử lý môi trƣờng nuôi, ngoài những tác dụng mong muốn đã gây ra nhiều ảnh hƣởng không tốt đến môi trƣờng và con ngƣời, tồn dƣ kháng sinh trong môi trƣờng thủy sinh đã ảnh hƣởng đến sự cân bằng của hệ vi sinh vật trong ao, vi phạm vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm, gây khó khăn trong việc xuất khẩu thủy sản trên thị trƣờng thế giới. download by : skknchat@gmail.com 2 Vì vậy, việc xử lý môi trƣờng trong quá trình nuôi nhằm cải thiện môi trƣờng nƣớc và phòng ngừa dịch bệnh là cấp thiết. Một trong những giải pháp quan trọng là sử dụng chế phẩm sinh học có chứa các vi sinh vật mang những đặc tính hữu ích ( phân hủy hữu cơ, đối kháng với vi khuẩn gây bệnh…) để xử lý môi trƣờng, tăng khả năng phòng bệnh của vật nuôi đã đƣợc nhiều nƣớc trên thế giới áp dụng.
Tuy nhiên, các chế phẩm sinh học, thuốc thú y thủy sản trên thị trƣờng hiện nay chủ yếu là chế phẩm nhập khẩu từ nƣớc ngoài, có giá thành khá cao, cách sử dụng phức tạp ( thƣờng phải hoạt hóa trƣớc khi sử dụng) nên gây tâm lý ngại sử dụng cho ngƣời dân. Từ những cơ sở lý luận về thực tiễn nói trên, chúng tôi tiến hành đề tài: “Nghiên cứu tuyển chọn một số chủng Lactobacillus, Bacillus và Rhodospirillaceae dùng để sản xuất chế phẩm sinh học cải thiện môi trường nước nuôi trồng thủy sản ”. Mục tiêu nghiên cứu - Tuyển chọn đƣợc các chủng vi khuẩn thuần chủng có hoạt tính sinh enzym phân giải hữu cơ, sinh chất kháng khuẩn và khử H2S dùng để sản xuất chế phẩm sinh học. - Tạo ra chế phẩm sinh học có chất lƣợng tốt để cải thiện, xử lý môi trƣờng nƣớc nuôi thủy sản.
Nội dung nghiên cứu - Tuyển chọn chủng vi khuẩn có đặc tính và tính chất phù hợp để sử dụng sản xuất chế phẩm sinh học xử lý môi trƣờng nƣớc nuôi trồng thủy sản. - Xác định đƣợc các điều kiện tối ƣu trong lên men sản xuất chế phẩm. - Thu hồi sinh khối tạo chế phẩm probiotic và bảo quản chế phẩm probiotic. - Xây dựng tiêu chuẩn cơ sở và quy trình kiểm nghiệm chế phẩm probiotic.
- Xây dựng quy trình sản xuất chế phẩm probiotic từ các chủng vi khuẩn nghiên cứu. download by : skknchat@gmail.com 3 Chƣơng 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tình hình phát triển nghề nuôi trồng thủy sản ở Việt Nam Trong những năm qua, nuôi trồng thủy sản phát triển mạnh, góp phần tích cực vào việc phát triển nền kinh tế, xã hội. Nuôi cá nƣớc ngọt, ba ba, ếch cũng có tốc độ tăng nhanh, tạo công ăn việc làm và tăng thu nhập cho một bộ phận lớn ngƣời dân.
Theo trang thông tin điện tử Tổng cục Thủy sản, giám đốc trung tâm thông tin thủy sản Dƣơng Long Trì [30], ƣớc tính giá trị nuôi trồng thủy sản 6 tháng đầu năm 2013 đạt 45.185 tỷ đồng (trong tổng số 83.318 tỷ đồng giá trị sản xuất thủy sản). Sản lƣợng ƣớc đạt 1. Trong lĩnh vực nuôi trồng thủy sản, đặc biệt thu hút nhiều ngƣời tham gia là nuôi tôm. Tôm cũng là mặt hàng xuất khẩu chiếm thị phần đáng kể trong kim ngạch xuất khẩu thủy sản của nƣớc ta.
Hàng năm, riêng tôm đã thu đƣợc hàng ngàn USD. Tôm sú và nghề nuôi tôm sú đã từng đem lại lợi nhuận cao, góp phần không nhỏ trong việc phát triển kinh tế của nhiều vùng. Công nghệ nuôi tôm sú cũng từng bƣớc đƣợc hoàn thiện từ nuôi quảng canh ở những vùng có nhiều diện tích đến bán thâm canh và thâm canh với mật độ cao (40-50 con/m2). Trong thời gian qua, nuôi tôm bán thâm canh và thâm canh phát triển khá nhanh, tạo cơ hội du nhập công nghệ nuôi của các nƣớc tiên tiến trên thế giới vào Việt Nam, nhanh chóng thay thế cho nuôi quảng canh lạc hậu, kém hiệu quả và phá hủy môi trƣờng tự nhiên [10].
Một số cơ sở nuôi tôm thâm canh cũng bắt đầu đánh giá đƣợc vai trò quan trọng của việc quản lý môi trƣờng nuôi nên đã chú ý đầu tƣ cơ sở hạ tầng đúng yêu cầu kỹ thuật. Xây dựng đầm, ao nuôi, hệ thống cấp thoát nƣớc đúng với yêu cầu. Tuy vậy, phần lớn cơ sở nuôi trồng thủy sản lại chƣa nhận thức đúng về việc bảo vệ môi trƣờng nuôi để phát triển bền vững. Nuôi tôm thâm canh, đặc biệt là nuôi tôm sú chịu nhiều rủi ro về khách quan nhƣ mƣa, bão, lũ lụt, hạn hán và rủi ro về chủ quan nhƣ kỹ thuật lạc hậu, con giống, thức ăn, hóa chất, chế phẩm xử lý môi trƣờng, thuốc trị bệnh kém chất lƣợng.
Ngay cả khi thu hoạch download by : skknchat@gmail.com 4 đƣợc sản phẩm thì ngƣời nuôi tôm cũng còn gánh chịu thiệt hại nếu sản phẩm còn dƣ lƣợng kháng sinh. Bởi vậy, rất nhiều cơ sở nuôi tôm bị thua lỗ nặng. Hiện trạng nuôi trồng và dịch bệnh trong hoạt động nuôi trồng thủy sản Sự phát triển nhanh chóng của hoạt động nuôi trồng thủy sản kéo theo tình trạng ô nhiễm nặng nề, làm lây lan và bùng phát dịch bệnh. Trong điều kiện nuôi tôm hiện nay, môi trƣờng ao nuôi rất giàu dinh dƣỡng.
Nguyên nhân là do ngƣời nuôi đã đƣa vào ao nuôi một lƣợng thức ăn tổng hợp rất lớn mà chỉ có một phần nhỏ (khoảng 17%) lƣợng thức ăn đƣợc đồng hóa thành sinh khối tôm, còn lại bị hòa tan trong nƣớc hoặc bài tiết ra ngoài môi trƣờng. Lƣợng thức ăn thừa, uế thải hữu cơ và phế thải do lột xác để duy trì hoạt động sống của tôm cùng với xác động vật thủy sinh phù du là những yếu tố làm cho ao nuôi nhiễm bẩn. Có thể nói đa số những đầm tôm hiện tại bị thất bại là do môi trƣờng bị nhiễm bẩn [1]. Sự nhiễm bẩn của ao đầm ngoài ô nhiễm hữu cơ còn nhiễm bẩn do việc sử dụng hóa chất, kháng sinh trong quá trình nuôi.
Khi tôm có hiện tƣợng kém ăn vì thay đổi thời tiết hay lột xác thì ngƣời nuôi thƣờng cho hóa chất, kháng sinh vào ao nuôi. Việc sử dụng hóa chất khử trùng ao bên cạnh tác dụng mong muốn còn gây ra những tác hại đối với môi trƣờng nhƣ việc tồn lƣu hóa chất trong môi trƣờng thủy sinh, làm giảm số lƣợng vi sinh vật có lợi trong ao nuôi (vi khuẩn phân hủy hữu cơ, vi khuẩn đối kháng với vi sinh vật gây bệnh), làm cho quá trình phân hủy hữu cơ bị đình trệ và hậu quả là môi trƣờng bị quá giàu dinh dƣỡng, kích thích sự phát triển của vi sinh vật gây bệnh, tăng cơ hội bệnh. Bên cạnh đó việc sử dụng hóa chất, kháng sinh trong nuôi trồng thủy sản cũng gây hiện tƣợng kháng thuốc, dƣ lƣợng kháng sinh trong thực phẩm hải sản gây ra cho ngƣời tiêu dùng những rủi ro tiềm ẩn nhƣ tăng mẫn cảm với dƣ lƣợng thuốc hoặc xuất hiện hệ vi khuẩn đƣờng ruột kháng lại các chất kháng khuẩn. Vấn đề duy trì môi trƣờng nuôi trong sạch là yếu tố cơ bản quyết định sự thành bại của nghề nuôi tôm [1].
Tuy nhiên không phải ngƣời nuôi trồng thủy sản nào cũng nhận thức đƣợc vấn đề đó. Nhiều cơ sở chƣa có hệ thống cấp thoát nƣớc đúng kỹ thuật. Nƣớc trƣớc khi cấp vào đầm, ao và sau khi nuôi, xả ra download by : skknchat@gmail.com 5 ngoài môi trƣờng chƣa có biện pháp xử lý. Các ao hồ đƣợc bố trí dày đặc thiếu quy hoạch nên đôi khi nƣớc xả của đầm này là nguồn cấp của đầm khác đó là cơ hội để các mầm bệnh lây lan, phát triển thành dịch bệnh.
Những thiệt hại do dịch bệnh gây ra dẫn đến thua lỗ trong nuôi tôm xảy ra hàng năm và khắp nơi trong cả nƣớc. Theo thống kê, ở đồng bằng sông Cửu Long, năm 2004 có 50% tổng số hộ nuôi bị thua lỗ. Ở khu vực miền Trung, tôm bị bệnh còn nhiều hơn, đến 65% số cơ sở nuôi bị bệnh. Có nhiều năm, nhiều cơ sở nuôi bị thiệt hại toàn bộ sản lƣợng.
Ở miền Bắc, hơn 50% số cơ sở nuôi tôm bị bệnh và gây thiệt hại không nhỏ [10]. Nhóm bệnh đốm trắng, đỏ thân, đen mang thƣờng xuất hiện hơn cả. Tiếp đó là bệnh nấm, ký sinh trùng, bệnh do vi khuẩn nhƣ phát sáng, bệnh mòn đuôi, cụt đuôi chỉ mang tính chất cơ hội khi nƣớc bị ô nhiễm, đặc biệt ô nhiễm hữu cơ hoặc khi tôm cá bị stress do thay đổi nhiệt độ, pH, mật độ thả quá dày, sự thay đổi độ mặn của nƣớc thì nguy cơ bị bệnh là không tránh khỏi [4,5,9]. Hiện trạng sử dụng chế phẩm sinh học trong nuôi trồng thủy sản Để giảm thiểu những bất lợi của hóa chất trong nuôi trồng thủy sản, cần phải hạn chế việc sử dụng.
Điều đó có nghĩa là phải thƣờng xuyên đối mặt với hàng loạt vấn đề ô nhiễm môi trƣờng và dịch bệnh.