Chương I: Cơ sở lý luận của việc thành lập các HTX và thu hút những người lao động tham gia HTX. e Chương II :Chế độ pháp lý Xã viên HTX - Những kiến nghị và kết luận. Luận án bước đầu nghiên cứu lý luận chung về chế độ pháp lý xã viên HTX, vận dụng lý luận đó để có những nhận xét, đánh giá sơ bộ thực tiễn áp dụng pháp luật. Tuy nhiên những nghiên cứu trong luận án mới chỉ là những hiểu biết bước đầu, cần phải được hướng dẫn, bổ sung thêm.
Luận án được viết với sự nỗ lực của bản thân và sự hướng dẫn tận tình, day trách nhiệm của Phó Tiến sĩ Trần Ngọc Dũng. Tác giả hy vọng rằng luận án sẽ là tài liệu tham khảo đối với mọi người quan tâm đến để tài này. CHƯƠNG MỘT CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC THÀNH LẬP CÁC HỢP TÁC XÃ VÀ THU HÚT NHỮNG NGƯỜI LAO ĐỘNG THAM GIA HỢP TÁC XÃ 1.1 ĐINH NGHĨA HỢP TAC XA: Điều 1, chương! của Luật Hợp tác xã (HTX) đã định nghĩa HTX như sau :” Hợp tác xã là tổ chức kinh tế tự chủ do những người lao động có nhu cầu, lợi ích chung, tự nguyện cùng góp vốn, góp sức lập ra theo qui định của pháp luật để phát huy sức mạnh của tập thể và của từng xã viên nhằm giúp nhau thực hiện có hiệu qủa hơn các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và cải thiện đời sống, góp phan phát triển kinh tế — xã hội của đất nước” Từ khái niệm trên cho thấy mục đích thành lập HTX là thúc đẩy phát triển kinh tế, cải thiện điều kiện kinh tế - xã hội của các tầng lớp nhân dân lao động kém thế lực về kinh tế là chủ yếu; góp phần phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Tuy nhiên, không loại trừ những người giàu, có tư tưởng hợp tác cùng có lợi theo các nguyên tắc HTX, tham gia tổ chức này.
Như vậy, HTX trước hết phải là tổ chức kinh tế, phải làm nhiệm vụ kinh doanh và có lãi hoặc hỗ trợ kinh doanh cho xã viên để sinh lãi. HTX là tổ chức của những người có chung nhu cầu, lợi ích hợp tác, không phân biệt địa vị kinh tế; những người tham gia vào HTX phải cùng góp vốn, góp sức để hợp tác hoạt động, kinh doanh. Là một tổ chức kinh tế, song HTX hoạt động theo các nguyên tắc khác với các tổ chức kinh tế khác là: Hợp tác, dân chủ, bình đẳng và cùng có lợi, cùng thúc đấy nhau phát triển kinh tế, cải thiện điều kiện kinh tế - xã hội của Xã viền. 12-HOC THUYET CUA CHỦ NGHĨA MAC-LENIN VỀ VIỆC THÀNH LAP CÁC HOP TÁC XÃ VA THU HUT NGƯỜI LAO DONG VÀO SAN XUẤT.
KINH DOANH TAP THỂ. Nghiên cứu sự ra đời và phát triển kinh tế hợp tác chúng ta thấy nó mang tính lịch sử và tất yếu, các hình thức hợp tác được hình thành và phát triển mang ‘inh tự nguyện của người nông dân và xuât phái từ lợi ích kinh tế của họ. Ngay từ thuở sơ khai con người đã biết cùng nhau hợp tác tìm kiếm, săn bắn, hái lượm những sản phẩm tự nhiên để cùng nuôi sống nhau. Đến khi sản xuất của nông dân được hình thành và phát triển thì sự hợp tác giản đơn dưới nhiều hình thức vần công, đổi công như cuốc đất, cày bừa, gặt hái và nhiều công việc khác của nhà nông cũng được hình thành và không ngừng phát triển.
Ang ghen đã chi rõ:" Nông dân trong một làng hay thuộc một nha xi. phải kết hợp toàn bộ ruộng đất của họ lại thành doanh nghiệp lớn duy nhất, cùng bỏ sức cày cấy chung và chia hoa lợi theo tỷ lệ ruộng đất đã góp vào, tiền bac đã bỏ ra và lao động đã làm được." | Hợp tác xã là sản phẩm của lịch sử. Từ giữa thập kỷ 60 của thế ky 19, chú ý đến thực tiễn của lịch sử về sự hình thành của các" Hợp tác xã công nhân" sau cách mạng dân chủ tư sản ở Châu Au (1848-1894) Mác va Ang phen đã thấy được chế độ hợp tác trong xã hội tương lai. Trong tuyên ngôn thành lập Hội Liên hiệp công nhân Quốc Tế (Quốc Tế I) hai ông đã đi đến khẳng định vai trò to lớn của Hợp tác xã sau khi giai cấp vô sản giành được 'Cmac-PH Ang-ghen tuyển tập II] NXB Sự Thật, Hà Nội 1971 trang 530 chính quyền.
Sau này, vào năm 1886, Ang ghen còn khẳng định một cách rõ ràng rằng," khi chuyển sang nên kinh tế cộng sản chủ nghĩa hoàn toàn, chúng ta sẽ phải ứng dụng rộng rãi nền sản xuất hợp tác hóa làm khâu trung gian". Sự phát triển phong phú của nền kinh tế mới ở nước Nga xô viết trong điều kiện chính sách kinh tế mơi (NEP) đã bổ sung phát triển những luận điểm của Lê- nin về con đường phát triển của nông nghiệp, về các hình thức hợp tác của nêng dân Nga lúc đó. Trong tác phẩm nổi tiếng"Bàn về chế độ hợn tác" vào tháng giéng năm 1923, Lê nin đã di đến hai kết luận cực kỳ quan trọng: - Hợp tác xã là" bước quá độ sang một chế độ mới bằng con đường đơn giản nhất, dễ dàng nhất, dễ tiếp thu nhất đối với nông dân". - Chế độ của những xã viên Hợp tác xã văn minh là chế độ xã hội chủ nghĩa.
Lê- Nin không chỉ lưu tâm đến việc tìm kiếm và khẳng định con đường hợp tác hóa của nông thôn nước Nga dưới chính quyền Xô-Viết, mà Người luôn nhấn mạnh bản chất tự nguyện, dân chủ và tôn trọng lợi ích của HTX. Tuy nhiên, trong thực tế, khuynh hướng dùng mệnh lệnh cưỡng bức nông dân đã nẩy sinh và lây lan khá phổ biến. Vì vậy, tại Đại hội lần thứ VIII Dang Cộng Sản Nga (tháng 3 năm 1919), Lê nin đã phê phán một cách gay gắt rằng," Ở đây mà dùng bạo lực thì có nghĩa là làm nguy hại đến toàn bộ sự nghiệp.Ở đây điều cần phải làm là công tác giáo dục lâu dai. và không ! a3 bao giờ được dùng mệnh lệnh Vào cuối đời, khi soạn thảo cương lĩnh ruộng đất lần thứ hai-Cương lĩnh của CNXH, Lê nin đã nêu luận điểm : "Chỉ ? Theo hợp tác hóa nông nghiệp Việt Nam - Lịch Sử - Vấn Dé - Triển Vong.
NXB sự thật, Hà Nội 1992- trang 70. Lê nin toàn tập, tiếng việt NXB tiến bộ Mat- xcơ- va, 1977 urang 38, T. những HTX do chính những người nông dân điều hành theo sáng kiến của họ và lợi ích của các HTX ấy được kiểm nghiệm trên thực tế mới có giá trị “." Có thể tóm tắt những tư tưởng của các nhà sáng lập ra CNCS khoa học về việc thành lập các HTX và thu bút người lao động vào sản xuất, kinh doanh tập thể như sau: 1/ Hợp tác tự nguyện vì lợi ích chung của xã viên là có tính qui luật và cơ sở nẩy sinh các quan hệ kinh tế hợp tác đều bắt nguồn từ áp lực kinh tế. 2/ Sự phát triển các lĩnh vực hợp tác, các hình thúc hợp tấc và qui :sô hợp tác ở những mức độ thấp cao, hẹp rộng khác nhau là xuất phát từ qui luật quan hệ sản xuất nhất thiết phải phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất.3-DUONG LOI CHÍNH SÁCH CUA DANG CONG SAN VIET NAM VỀ VIÊC THÀNH LAP CAC HTX VA DUA NGƯỜI LAO ĐÔNG VÀO SẢN XUẤT.
KINH DOANH TÂP THỂ Đảng Cộng sản Việt Nam đã dé ra các chủ trương, chính sách về việc thành lập các HTX và đưa người lao động vào sản xuất kinh doanh tập thể gắn liền với từng thời kỳ lịch sử và những bước thăng trầm của kinh tế hợp tác ở nước ta. Để đánh giá lại ý nghĩa lý luận, thực tiễn của đường lối lãnh đạo của Dang ta về vấn dé này có thể nghiên cứu hai giai đoạn lớn: 1.1- Giai đoan tiến hành thành lâp các HTX trên qui mô lớn trong nông nghiêp ; củng cố và mở rông chế đô kinh tế tap thể (1958- 1988). Vào năm 1958, sau cải cách ruộng đất, ở nông thôn theo qui luật tất yếu của sản xuất, đã xuất hiện sự phân hóa giàu nghèo. Xuất phát từ nhận thức: Muốn xóa bỏ tận gốc chế độ bóc lột, chặn đứng con đường phát triển tự phát của CNTB ở nông thôn, muốn có cơ sở để tiến hành công nghiệp hóa XHCN, *V.I[Lê nin Toàn tap, tiếng việt, NXB Mat- xcơ- va.
toàn bộ công cuộc cải tạo XHCN. các muốn củng cố khối liên minh công nông trong thời kỳ lịch sử mới. Đảng ta trên cơ sở vận dụng kinh nghiệm của nước XHCN, đã quyết định tiến hành hợp tác hóa nông nghiệp trên toàn Miền Bắc, coi đó là khâu then chốt trong toàn bộ công cuộc cải tạo XHCN. Hội Nghị Ban Chấp Hành Trung ương Dang tháng 11/1958 đi đến kết luận:" Hợp tác hóa nông nghiệp là yêu cầu phát triển khách quan của nông thôn, là nhiệm vụ trung tâm của Đảng trong giai đoạn mới." Thực hiện đường id ấy, cho đến phững tăm 1976 - 1986 Dang ta đã tiến hành tổ chức lại sản xuất, đưa nông nghiệp tiến lên sản xuất XHCN cơ bản hoàn thành hợp tác hóa nông nghiệp trên phạm vi cả nước.
Nhìn chung giai đoạn này, mô hình HTX là mô hình theo kiểu tập trung, qui mô lớn đã không phù hợp dẫn đến sự khủng hoảng không chỉ diễn ra trong các HTX nông nghiệp mà ảnh hưởng đến toàn bộ hoạt động của nền kinh tế quốc dân. Trên cơ sở tổng kết, đánh giá tình hình thực tiễn, ngày 13/ 1/1981 Ban bí thư trung ương đã ban hành chỉ thị 100 CT/ TW, chính thức quyết định chủ trương thực hiện chế độ khoán sản phẩm cuối cùng đến nhóm và người lao động. Chỉ thị 100 CT/ TW nêu rõ: mục đích của việc thực hiện cơ chế khoán mới trong các HTX nông nghiệp là nhằm đảm bảo phát triển sản xuất; nâng cao hiệu quả kinh tế; lôi cuốn được mọi người lao động hăng hái sản xuất; kích thích tăng năng suất lao động, sử dụng tốt đất đai tư liệu s4n xuất hiện có, áp dụng tiến bộ kỹ thuật, tiết kiệm chi phí sản xuất; củng cố, tăng cường quan hệ sản xuất XHCN ở nông thôn; nâng cao thu nhập xã viên; tích lũy cho HTX; tăng khối lượng nông sản cho nhà nước. Tuy nhiên cơ chế khoán sản phẩm theo tỉnh thần chỉ thị 100 sau một thời gian phát huy tác dụng đã bộc lộ rõ những hạn chế.
Về cơ bản, mô hình 10 Hợp tác xã vẫn dựa trên sở hữu tập thể, quản lý tập trung, phân phối thống nhất theo chế độ công điểm .