Tổng quan nghiên cứu

Thực tiễn lịch sử lập hiến suốt 68 năm qua kể từ cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên năm 1946 đến Hiến pháp năm 2013 cho thấy chế độ dân chủ đại diện luôn là phương thức chủ yếu để nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước. Ngay từ khóa I, tỷ lệ cử tri đi bỏ phiếu đã đạt 89% và tiếp tục duy trì ở mức rất cao, đạt 99,73% trong cuộc bầu cử Quốc hội khóa XI. Tuy nhiên, trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa theo định hướng của Đại hội Đảng lần thứ XI, cơ chế đại diện gián tiếp đang bộc lộ những mâu thuẫn giữa tính đại diện theo cơ cấu thành phần và yêu cầu nâng cao năng lực lập pháp chuyên nghiệp của Quốc hội.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm đặt ra là làm thế nào để hoàn thiện các quy định pháp luật về tổ chức, hoạt động của Quốc hội và Đại biểu Quốc hội, nhằm khắc phục triệt để tính hình thức trong hoạt động đại diện. Mục tiêu cụ thể của luận văn là hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về chế độ dân chủ đại diện, phân tích thực trạng các quy phạm pháp luật điều chỉnh từ năm 1946 đến năm 2014, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ nâng cao năng lực thực hành dân chủ đại diện tại Việt Nam.

Phạm vi nghiên cứu tập trung vào chế định Quốc hội và Đại biểu Quốc hội trong không gian pháp lý Việt Nam giai đoạn đổi mới, gắn liền với Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2020. Nghiên cứu mang ý nghĩa khoa học và thực tiễn sâu sắc, cung cấp cơ sở để nâng tỷ lệ đại biểu Quốc hội chuyên trách lên trên 35%, tối ưu hóa 100% quy trình tiếp xúc cử tri và bảo đảm phản ánh trọn vẹn tiếng nói của cộng đồng 54 dân tộc trong mọi quyết sách quốc gia.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng hai hệ thống lý thuyết nền tảng trong khoa học pháp lý hiện đại:

Thứ nhất, học thuyết về chủ quyền nhân dân và nguyên tắc ủy quyền mệnh lệnh do Jean-Jacques Rousseau khởi xướng và được V.I. Lênin phát triển. Theo lý thuyết này, quyền lực tối cao thuộc về toàn dân, đại biểu do nhân dân bầu ra là người thừa hành mệnh lệnh, chịu sự giám sát trực tiếp và có thể bị bãi miễn nếu không còn xứng đáng với sự tín nhiệm của cử tri.

Thứ hai, học thuyết ủy quyền tự do gắn liền với học giả Marcel Prélot, được thừa nhận rộng rãi trong pháp luật quốc tế như Điều 67 Hiến pháp Cộng hòa Ý năm 1947 hay Điều 104 Hiến pháp Ba Lan năm 1997, nơi đại biểu đại diện cho toàn thể quốc gia và hoạt động độc lập với ý chí cử tri địa phương.

Trên cơ sở đó, 4 khái niệm then chốt được chuẩn hóa gồm: dân chủ đại diện, quyền lực nhân dân, tính đại diện của cơ quan dân cử và địa vị pháp lý của đại biểu Quốc hội trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu nghiên cứu được thu thập từ 5 bản Hiến pháp Việt Nam (1946, 1959, 1980, 1992 và 2013), Luật Bầu cử Đại biểu Quốc hội năm 1997 sửa đổi năm 2001, Luật Tổ chức Quốc hội năm 2001 cùng các văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX và XI.

Cỡ mẫu nghiên cứu bao quát dữ liệu tổ chức và nhân sự qua 13 nhiệm kỳ Quốc hội Việt Nam, trong đó tập trung phân tích mẫu mục tiêu gồm 5 khóa tiêu biểu (khóa I, khóa IX, khóa X, khóa XI và khóa XII) với quy mô trung bình gần 500 đại biểu mỗi khóa. Phương pháp chọn mẫu mục tiêu được áp dụng nhằm bám sát các bước chuyển giao thể chế chính trị và cải cách hành chính quan trọng.

Nghiên cứu sử dụng kết hợp phương pháp so sánh luật học, phân tích định lượng thống kê và tổng hợp quy phạm. Lý do lựa chọn các phương pháp này là nhằm đối chiếu trực diện giữa quy định pháp luật thực định với số liệu thực thi thực tế, đồng thời so sánh mô hình của Việt Nam với chuẩn mực lập pháp quốc tế trong timeline nghiên cứu từ năm 2011 đến năm 2014.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Quá trình khảo sát và phân tích dữ liệu pháp lý thực tế đã đem lại 4 phát hiện quan trọng:

Thứ nhất, tỷ lệ tham gia bầu cử của cử tri Việt Nam luôn đạt mức rất cao, từ 89% tại cuộc bầu cử năm 1946 tăng lên 99,73% ở khóa XI. Tỷ lệ này cao vượt trội so với mức tham gia 33,8% của cử tri Mỹ năm 1998 hay tỷ lệ vắng mặt lên tới 39,9% tại vòng hai bầu cử Quốc hội Pháp năm 2002.

Thứ hai, tỷ lệ đại biểu Quốc hội tái cử duy trì ở mức thấp qua nhiều nhiệm kỳ liên tiếp: khóa IX chỉ đạt 27,34% với 108 đại biểu, khóa X đạt 27,11% với 135 đại biểu và khóa XII đạt 27,59% với 136 đại biểu. Điều này gây đứt gãy kinh nghiệm lập pháp và ảnh hưởng đến tính ổn định của cơ quan dân cử.

Thứ ba, quy định tại Điều 45 Luật Tổ chức Quốc hội năm 2001 đặt mục tiêu tối thiểu 25% đại biểu chuyên trách, nhưng trên thực tế hơn 72% đại biểu vẫn hoạt động theo chế độ kiêm nhiệm, làm giới hạn đáng kể thời gian dành cho công tác giám sát tối cao và xây dựng luật.

Thứ tư, cơ cấu đơn vị bầu cử hiện quy định mỗi đơn vị bầu từ 2 đến 3 đại biểu với danh sách ứng cử thường chỉ từ 3 đến 5 người, dẫn đến tỷ lệ cạnh tranh thực tế chỉ đạt mức số dư khoảng 1 đến 2 ứng viên cho mỗi đơn vị.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân căn bản của các tồn tại trên xuất phát từ việc thiết kế quy trình bầu cử nặng về cơ cấu thành phần nhằm phản ánh khối đại đoàn kết gồm 54 dân tộc và mọi tầng lớp xã hội, vô hình trung làm nhẹ tiêu chuẩn năng lực chuyên môn và bản lĩnh tranh luận nghị trường.

Dữ liệu nghiên cứu có thể được mô hình hóa qua bảng so sánh tỷ lệ đại biểu tái cử qua 3 nhiệm kỳ (khóa IX, X, XII) và biểu đồ phân bổ cơ cấu đại biểu chuyên trách - kiêm nhiệm. Cách trình bày trực quan này phản ánh rõ sự bất cập giữa khối lượng công việc lập pháp ngày càng lớn với quỹ thời gian hạn hẹp của đại biểu kiêm nhiệm.

Khác với mô hình nghị viện phương Tây vận hành theo nguyên tắc ủy quyền tự do, Việt Nam áp dụng nguyên tắc kết hợp: đại biểu vừa đại diện cho đơn vị bầu cử, vừa đại diện cho nhân dân cả nước. Tuy nhiên, việc thiếu cơ chế bảo vệ ý kiến thiểu số khiến nguyên tắc biểu quyết đa số dễ làm triệt tiêu các đề xuất chính đáng. Kết quả nghiên cứu khẳng định hoàn thiện chế độ dân chủ đại diện là đòi hỏi tất yếu để xây dựng thành công Nhà nước pháp quyền.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm nâng cao chất lượng hoạt động của Quốc hội và bảo đảm quyền làm chủ thực chất của nhân dân, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp trọng tâm:

Thứ nhất, nâng cao tỷ lệ đại biểu Quốc hội chuyên trách từ mức 25% hiện tại lên tối thiểu 35% trong nhiệm kỳ 2016 - 2021 và đạt 50% vào năm 2030. Quốc hội và Ủy ban Thường vụ Quốc hội là chủ thể chủ trì thực hiện nhằm bảo đảm tính chuyên nghiệp hóa sâu sắc trong hoạt động nghị trường.

Thứ hai, hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn đại biểu bằng cách sửa đổi Điều 3 Luật Bầu cử Đại biểu Quốc hội trước năm 2015. Ban Công tác đại biểu cần ban hành bảng tiêu chí lượng hóa năng lực lập pháp, tư duy phản biện và phẩm chất đạo đức, chấm dứt tình trạng quy định chung chung khiến mọi ứng viên đều tự nhận đủ tiêu chuẩn.

Thứ ba, mở rộng tính cạnh tranh trong hiệp thương và bầu cử bằng cách tăng số lượng người ứng cử tại mỗi đơn vị bầu cử lên tối thiểu 2 ứng viên dư trên 1 ghế đại biểu, đạt tỷ lệ cạnh tranh từ 160% đến 200% trong giai đoạn 2016 - 2020. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cần đổi mới quy trình lấy ý kiến cử tri nơi cư trú, tạo cơ chế công bằng và minh bạch cho người tự ứng cử.

Thứ tư, đổi mới chế độ tiếp xúc cử tri và trách nhiệm giải trình bằng việc ban hành quy chế bắt buộc đại biểu dành ít nhất 30% tổng thời gian làm việc trong năm để đối thoại trực tiếp với cử tri. Đoàn Đại biểu Quốc hội tại 63 tỉnh, thành phố chịu trách nhiệm giám sát xử lý 100% khiếu nại, phản ánh của nhân dân đúng thời hạn luật định.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang giá trị ứng dụng thực tiễn cao cho 4 nhóm đối tượng trọng điểm:

Thứ nhất, Đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp và đội ngũ chuyên viên tham mưu tại Văn phòng Quốc hội. Hơn 500 đại biểu dân cử có thể sử dụng các luận cứ trong luận văn để nâng cao kỹ năng chất vấn, đổi mới phương thức tiếp xúc cử tri và tối ưu hóa quy trình thẩm tra dự án luật.

Thứ hai, giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học tại hơn 60 cơ sở đào tạo luật học và khoa học chính trị trên toàn quốc. Luận văn là tài liệu tham khảo chuyên khảo giá trị cho các học phần Lý luận Nhà nước và Pháp luật, Luật Hiến pháp và Lịch sử lập hiến qua 5 bản Hiến pháp Việt Nam.

Thứ ba, cán bộ làm công tác Mặt trận và các tổ chức chính trị - xã hội tại 63 tỉnh thành. Đây là cẩm nang thực tiễn giúp nâng cao chất lượng tổ chức 3 vòng hiệp thương, giám sát bầu cử và phát huy dân chủ cơ sở.

Thứ tư, các chuyên gia tư vấn thể chế và hoạch định chính sách công. Nghiên cứu cung cấp khung phân tích so sánh để xây dựng các đề án đổi mới hệ thống chính trị và hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước giai đoạn 2015 - 2025.

Câu hỏi thường gặp

Chế độ dân chủ đại diện được hiến định như thế nào trong Hiến pháp năm 2013? Điều 6 Hiến pháp năm 2013 quy định nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước bằng dân chủ trực tiếp, bằng dân chủ đại diện thông qua Quốc hội, Hội đồng nhân dân và các cơ quan khác. Điều khoản này khẳng định vị trí pháp lý tối cao của gần 500 đại biểu Quốc hội trong việc thể chế hóa ý chí toàn dân thành luật pháp.

Tại sao cần tăng tỷ lệ đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách lên trên 35%? Quy định mức tối thiểu 25% tại Luật Tổ chức Quốc hội năm 2001 không còn đáp ứng được khối lượng lập pháp đồ sộ. Việc nâng tỷ lệ chuyên trách lên 35% giai đoạn 2016 - 2021 giúp giảm tỷ lệ kiêm nhiệm vốn chiếm hơn 70%, bảo đảm đại biểu toàn tâm thực hiện chức năng giám sát tối cao.

Điểm khác biệt căn bản giữa ủy quyền tự do và ủy quyền mệnh lệnh là gì? Mô hình ủy quyền tự do như Điều 67 Hiến pháp Ý năm 1947 xem đại biểu đại diện cho toàn dân tộc, không chịu ràng buộc bởi cử tri. Ngược lại, ủy quyền mệnh lệnh tại Việt Nam yêu cầu đại biểu chịu trách nhiệm trực tiếp trước cử tri và có thể bị bãi miễn nếu mất tín nhiệm.

Vì sao tỷ lệ đại biểu Quốc hội tái cử qua các khóa chỉ đạt khoảng 27%? Thống kê từ khóa IX (27,34%), khóa X (27,11%) và khóa XII (27,59%) cho thấy tỷ lệ tái cử thấp bắt nguồn từ sự luân chuyển công tác của cán bộ kiêm nhiệm và yêu cầu đổi mới nhân sự theo nhiệm kỳ 5 năm, dẫn đến khó khăn trong tích lũy kinh nghiệm nghị trường.

Quy trình hiệp thương bầu cử đóng vai trò gì trong việc bảo đảm tiếng nói của 54 dân tộc? Quy trình 3 vòng hiệp thương do Mặt trận Tổ quốc chủ trì giúp cân đối cơ cấu đại diện hợp lý giữa các vùng miền, giới tính và bảo đảm đồng bào dân tộc thiểu số trong 54 dân tộc anh em luôn có đại biểu thích đáng tại Quốc hội.

Kết luận

Luận văn đã hoàn thành xuất sắc các mục tiêu nghiên cứu với 5 đóng góp học thuật và thực tiễn nổi bật:

• Hệ thống hóa toàn diện lý luận về dân chủ đại diện trong mối quan hệ hữu cơ với mô hình Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam.

• Đánh giá thực chứng 13 khóa Quốc hội với các dữ liệu điển hình về tỷ lệ cử tri đi bầu (đạt 99,73% ở khóa XI) và tỷ lệ tái cử ổn định quanh mức 27%.

• Phân tích sâu sắc hạn chế của cơ cấu đại biểu kiêm nhiệm chiếm trên 70% cùng quy định tối thiểu 25% đại biểu chuyên trách chưa đáp ứng yêu cầu thực tế.

• Xác lập hệ thống 4 nhóm giải pháp mang tính đột phá về định lượng hóa tiêu chuẩn ứng viên, tăng tỷ lệ đại biểu chuyên trách lên 35% - 40% và mở rộng số dư ứng cử.

• Cung cấp luận cứ pháp lý quan trọng phục vụ trực tiếp công tác hoàn thiện Luật Bầu cử Đại biểu Quốc hội và Luật Tổ chức Quốc hội.

Lộ trình thể chế hóa các đề xuất cần được triển khai quyết liệt trong giai đoạn 2016 - 2020 với tầm nhìn chiến lược đến năm 2030. Các nhà nghiên cứu, cán bộ lập pháp và độc giả quan tâm hãy chủ động khai thác tài liệu này để đóng góp tích cực vào công cuộc đổi mới hoạt động của Quốc hội Việt Nam.