CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA 1. Khái niệm doanh nghiệp nhỏ và vừa Theo luật doanh nghiệp năm 2014 được Quốc hội ban hành và chính thức có hiệu lực vào ngày 1/7/2015, doanh nghiệp được đinh nghĩa: iiDoanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh” [3]. Cũng theo luật này, kinh doanh được hiểu là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình, đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi.
Ở Việt Nam, theo nghị định 56/2009/NĐ-CP : "Doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên”” [11]. Như vậy việc xác định một doanh nghiệp có thuộc nhóm các doanh nghiệp vừa và nhỏ hay không sẽ dựa trên hai tiêu chí là tổng nguồn vốn và số lao động bình quân năm, việc định lượng hai tiêu chí này cũng có sự khác nhau giữa các quốc gia. Phân loại doanh nghiệp nhỏ và vừa Thực tế trên thế giới có nhiều quan niệm khác nhau về doanh nghiệp nhỏ và vừa, nguyên nhân của sự khác nhau đó là do các nước có những tiêu thức khác nhau để phân loại quy mô doanh nghiệp. Các tiêu thức được dùng để phân loại doanh nghiệp nhỏ và vừa có thể được sử dụng như: quy mô vốn, doanh thu, số lao động bình quân, tổng tài sản.
Tuy nhiên tựu chung lại có hai tiêu thức phố biến nhất được sử dụng là quy mô vốn và số lượng lao động. Bảng tiêu thức xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa tại một số quốc gia được thể hiện trong bảng sau: Tiêu thức áp dụng Nước Số lao động Tổng vốn hoắc giá trị TS 6<0.6 tỷ Rupi Indonesia <100 Singapo <100 <499 triệu USD Thái Lan <1001.1: Tiêu thức xác định<200 Bảng doanhBath nghiệp nhỏ và vừa <300 trong CN&XD ở một số nước <0.6 triệulãnh và vùng USDthổ Hàn Quốc <200 trong TM&DV <0.25 triệu USD <100 trong bán buôn <100 triệu yên Nhật Bản <50 trong bán lẻ <10 triệu yên EU <250 <27 triệu EURO My <500 <20 triệu USD Mexico <250 <7 triệu USD Quy mô DN DN nhỏ DN vừa DN lớn siêu nhỏ Khu vực Lao Lao Lao động Vốn Lao động Vốn Vốn động động Khu vực nông, ≤10 ≤ 20 tỷ Trên 10 Trên 20 Trên Trên Trên lâm nghiệp và đến tỷ đến 200 đến (Nguôn:Giải pháp 100 tỷ 300 thủy sản 200 100 tỷ 300 phát triển doanh Khu vực công nghiệp nhỏ Ở≤10 Việt ≤ 20 Doanh Nam, tỷ Trên 10 nhỏ nghiệp Trênvà20 vừa Trên Trên nghiệp là những doanh Trên có quy mô và vừa nghiệp và xây nhỏ Việt Nam-NXB về vốn, lao động. Theo đến Nghị tỷ đến số 200 định đến 100 tỷ ngày 300 56/2009/NĐ-CP 30/6/2009 của dựng CTQG,2009 tr2) 200 100 tỷ 300 Chính phủ, tiêu chí phân loại doanh nghiệp nhỏ và vừa như sau: Khu vực dịch vụ ≤10 ≤ 10 Trên 10 Trên Trên Trên Trên Bảng 1.2: Bảng tỷ đến 50 10 tỷ đến 50 50 tỷ 100 phân loại doanh 50 tỷ đến nghiệp theo Nghị định số 100 56/2009/NĐ-CP 7 1. Đặc điểm doanh nghiệp nhỏ và vừa Doanh nghiệp nhỏ và vừa là bộ phận không thể thiếu trong cộng đồng các doanh nghiệp của một nền kinh tế, nhóm doanh nghiệp này có những đặc điểm cơ bản như: Thứ nhất, doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm đa số trong tổng số doanh nghiệp, đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế.
Theo số liệu được Ủy ban châu Âu (EC) công bố 8/2014, doanh nghiệp nhỏ và vừa ở châu Âu chiếm 99% tổng số doanh nghiệp. Theo báo cáo mới nhất vào tháng 1/2014 về tình hình tài chính của các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Mỹ, nhóm doanh nghiệp này chiếm tới 99% tổng số doanh nghiệp, sử dụng trên 50% tổng số lao động xã hội, tạo công ăn việc làm cho 65% lượng lao động ở khu vực tư nhân. Tại Việt Nam, theo Viện Phát triển doanh nghiệp thuộc Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, số lượng DNNVV chiếm khoảng 97%, và đang có xu hướng tăng nhanh ở 2 lĩnh vực chính là dịch vụ và công nghiệp - xây dựng, đóng góp hơn 40% GDP cả nước và sử dụng trên 51% tổng số lao động xã hội. Thứ hai, doanh nghiệp nhỏ và vừa có quy mô vốn nhỏ, gặp khó khăn trong việc tiếp cận với nguồn vốn chính thức, đặc biệt là ở các nước đang phát triển.
Điều này là một cản trở không nhỏ trong việc triển khai, áp dụng các tiến bộ khoa học, công nghệ mới vào hoạt động kinh doanh. Thứ ba, doanh nghiệp nhỏ và vừa chịu sự cạnh tranh khốc liệt của các công ty, tập đoàn lớn và từ chính các doanh nghiệp với nhau. Trong quá trình hội nhập, các doanh nghiệp nhỏ và vừa không chỉ chịu sự cạnh tranh của các công ty, tập đoàn trong nước mà còn phải đối mặt với sự canh tranh của các công ty, tập đoàn lớn nước ngoài bởi trong tiến trình vươn ra thế giới các công ty, tập đoàn lớn luôn có xu hướng mở các công ty con tại các quốc gia có tiềm năng phát triển. Thứ tư, với nguồn vốn nhỏ hẹp, các doanh nghiệp này thường tập trung vào các ngành hàng gần gũi với người tiêu dùng hơn là đầu tư vào các ngành công nghiệp nặng, sản xuất khai thác cần nhiều vốn.
Ở Việt Nam, theo Cục xúc tiến thương mại (2012) trong cơ cấu ngành nghề, khoảng 43% doanh nghiệp nhỏ và vừa 8 hoạt động trong lĩnh vực sản xuất, 24% trong lĩnh vực thương mại và phân phối, số còn lại hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ và liên quan đến nông nghiệp. Thứ năm, về năng lực quản lý điều hành, xuất phát từ thực tiễn quy mô nhỏ về nguồn lực tài chính cũng như số lượng lao động, các nhà quản lý doanh nghiệp nhỏ và vừa thường bao quát, quán xuyến tất cả các mặt của hoạt động kinh doanh, vì thế mà nhiều kĩ năng, nghiệp vụ quản lý ở các doanh nghiệp nhỏ và vừa còn rất thấp so với yêu cầu. Theo số liệu thống kê từ Tổng cục thống kê, có tới 55,63% số chủ doanh nghiệp có trình độ học vấn từ trung cấp trở xuống, trong đó 43,3% chủ doanh nghiệp có trình độ học vấn từ sơ cấp và phổ thông các cấp. Cụ thể, tiến sỹ chỉ chiếm 0,66%; thạc sỹ 2,33%; tốt nghiệp đại học 37,82%; tốt nghiệp cao đẳng chiếm 3,56%; tốt nghiệp trung học chuyên nghiệp chiếm 12,33% và 43,3% có trình độ thấp hơn.
về lực lượng lao động, có tới 75% lực lượng lao động trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa chưa qua đào tạo chuyên môn kỹ thuật; việc thực hiện chưa đầy đủ các chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế cho người lao động đã làm giảm đi chất lượng công việc trong khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa, do vậy các doanh nghiệp nhỏ và vừa càng rơi vào vị thế bất lợi. Vai trò của doanh nghiệp nhỏ và vừa Đối với nền kinh tế, doanh nghiệp nhỏ và vừa đóng một vai trò rất quan trọng, nhất là tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập cho người lao động, giúp huy động các nguồn lực xã hội cho đầu tư phát triển, xóa đói giảm nghèo. Cụ thể, theo như phân tích ở trên, về lao động, hàng năm tạo thêm trên nửa triệu lao động mới; sử dụng tới 51% lao động xã hội và đóng góp hơn 40% GDP. Số tiền thuế và phí mà các doanh nghiệp nhỏ và vừa đóng góp vào ngân sách nhà nước đã tăng gần 20 lần trong 10 năm vừa qua, sự đóng góp đó đã góp phần hỗ trợ lớn để chi tiêu cho các công trình xã hội và các chương trình phát triển khác.
Nhận thức được tầm quan trọng đó, nhà nước ta đã đưa ra mục tiêu phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa giai đoạn 2011 - 2015 là thành lập mới 350.000 doanh nghiệp và phấn đấu đến ngày 31/12/2015, cả nước sẽ có khoảng 700.000 doanh nghiệp hoạt động. Trong đó, tỷ trọng xuất khẩu của khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm 25% tổng kim ngạch 9 xuất khẩu toàn quốc; đầu tu của khu vực này chiếm khoảng 35% tổng vốn đầu tu toàn xã hội; đóng góp 40% GDP; 30% tổng thu ngân sách nhà nuớc (NSNN); tạo thêm 3,5 - 4 triệu việc làm mới trong giai đoạn 2011 - 2015. Đây là một nhiệm vụ lớn, đòi hỏi phải có sự chung tay, chung sức của cả hệ thống chính trị, của các bộ, ngành và địa phuơng. Doanh nghiệp nhỏ và vừa giúp khai thác và phát huy tốt các nguồn lực tại chỗ.
Thực tế cho thấy các doanh nghiệp nhỏ và vừa có mặt ở hầu hết các vùng miền, địa phuơng. Điều này có thể thấy thông qua nguồn lực lao động tại các doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm khoảng ½ lực luợng lao động sản xuất phi nông nghiệp, ở một số làng nghề, vùng miền tỷ lệ này thậm chí còn cao hơn rất nhiều. Các doanh nghiệp nhỏ và vừa cũng giúp tận dụng nguồn vốn rảnh rỗi trong dân cu,làm gia tăng tốc độ luân chuyển vốn, tạo hiệu quả trong đầu tu kinh doanh cũng nhu tận dụng những nguồn nguyên liệu tại chỗ và sản xuất. Do đặc tính linh hoạt dễ thích nghi với những sự thay đổi của thị truờng giúp các doanh nghiệp nhỏ và vừa có thể tồn tại truớc những biến động xảy ra nhanh hơn các doanh nghiệp lớn.
Bên cạnh đó, hàng hóa của các DNNVV thiên về sự đa dạng về chất luợng và chủng loại, tạo cho nguời tiêu dùng có nhiều cơ hội đuợc lựa chọn, họ cũng có thể tiến vào nhiều thị truờng nhỏ mà các công ty lớn bỏ qua vì doanh thu từ đó quá nhỏ. Sự có mặt của các doanh nghiệp nhỏ và vừa cũng góp phần hình thành và phát triển đội ngũ các nhà kinh doanh năng động.