Chương 1: Tổng quan về chất lượng dịch vụ tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ của Ngân hàng thương mại. Chương 2: Thực trạng chất lượng dịch vụ tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại VietinBank chi nhánh Hai Bà Trưng Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng dịch vụ tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại VietinBank chi nhánh Hai Bà Trưng. _________________Tiêu thức áp dụng Nước _________________ ______Số lao động Tổng vốn hoặc giá trị tài sản ______ < 100 < 499’triệu SGD 7 < 100 < 200’Bath Singapore < 300 (công nghiệp, xây Thái Lan dựng) CHƯƠNG”<1:0,6’triệu TỔNGUSD QUAN VỀ CHẤT LƯỢNG < 200 (thuơng mại, dịch Hàn Quốc vụ) TÍN DỤNG ĐỐI VỚI < 0,25DOANH triệu USDNGHIỆP VỪA VÀ NHỎ CỦA < 100 (bán buôn) < 100 HÀNG NGÂN triệu YênTHƯƠNG MẠI < 50 (bán lẻ) < 10 triệu Yên Nhật Bản < 250 < 27 triệu EUR Mexico <1.1 250Tổng quan doanh nghiệp vừa và nhỏ < 7 triệu’USD Mỹ _____________________ <1. 500 Khái”niệm”doanh nghiệp < ”20 ”vừa và”nhỏ ’triệu USD _____________________ _________________________ Trên thực tế, các quốc gia có quan’niệm khác’nhau về DNVVN, nguyên nhân là do mỗi quốc gia sử dụng những tiêu’thức khác nhau để“phân”loại quy”mô doanh”nghiệp.
Khi định’nghĩa về DNVVN, các quốc gia thuờng dựa trên một số tiêu chí nhu quy’mô vốn”của”doanh”nghiệp, số”lao”động thuờng”xuyên, tổng doanh thu, tổng tài sản của doanh nghiệp. Tuy’nhiên, trong tất cả“các tiêu”thức phân”loại đó có hai’tiêu”thức đuợc sử”dụng phổ biến là quy”mô vốn và số”luợng lao”động. Mặt khác, việc luợng”hoá các tiêu”thức sử dụng để phân’loại còn phụ’thuộc vào nhiều’yếu”tố nhu: • Trình’độ phát triển kinh”tế - xã”hội của mỗi quốc gia. • Tính đặc thù của từng“lĩnh vực hoạt”động sản”xuất kinh” doanh” • Mục đích“phân định và chính sách kinh tế của mỗi quốc”gia;.1: Tiêu’thức xác’định DNVVN ở một số quốc gia trên thế giới Nguồn: ”Giải ”phápphát”triển DNVVN”Việt,Nam - NXB CTQG, tr2 ” 8 Tại Việt’Nam, tiêu”chí xác’định DNVVN được quy định trong“Luật số 04/2017/QH14 về “Luật hỗ trợ Doanh nghiệp nhỏ và vừa”.
Theo quy định này DNVVN được định nghĩa như sau: “DNVVN là cơ sở sản xuất, kinh doanh độc lập, đã đăng ký kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng hoặc số lao động trung bình hàng năm không quá 30 người ”. Như vậy,“tất cả các doanh”nghiệp thuộc mọi thành”phần kinh”tế có đăng”ký kinh”doanh và thoả”mãn một”trong hai điều”kiện trên đều được”coi”là DNVVN. Theo thống kê của Phòng’Thương mại và’Công nghiệp Việt’Nam (VCCI), “DNVVN hiện giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế với tổng số DNVVN chiếm trên 97% tổng số Doanh nghiệp cả nước, đóng góp 50% GDP, 33% thu ngân ”sách nhà”nước, tạo ra 62% việc”làm cho người”lao”động, đóng góp 49% vào việc tạo ra giá trị gia tăng cho nền kinh tế. Đặc điểm doanh nghiệp vừa và nhỏ Thứ nhất, DNVVN có quy mô nhỏ, ít”vốn, chi phí”quản lý, đào”tạo không lớn, thường’tập trung trong những’lĩnh vực phục’vụ trực tiếp đời’sống, sản xuất sản’phẩm có sức mua’cao, dung”lượng thị”trường lớn, nên huy”động được các nguồn”lực xã”hội,“tận’dụng được các nguồn nguyên’vật”liệu, nhân”lực tại”chỗ.
Các DNVVN thường hoạt động trong các lĩnh vực sau: • DNVVN là“vệ’tinh, chế’biến bộ phận chi’tiết cho các doanh’nghiệp”lớn. • DNVVN thực’hiện“các dịch’vụ trong quá trình phân”phối và thương”mại hoá, dịch’vụ sinh”hoạt và giải”trí, dịch”vụ tư vấn và hỗ”trợ. • DNVVN“trực tiếp tham’gia”chế biến các sản”phẩm cho”người tiêu”dùng cuối”cùng với tư’cách là nhà”sản’xuất”toàn”bộ. Thứ hai, DNVVN“nhạy”cảm với những biến”động của thị”trường, chuyển đổi mặt”hàng nhanh phù hợp với thị”hiếu của người tiêu” dùng.
Tuy nhiên, các sản phẩm sản xuất thường không được coi trọng về mặt chất lượng, tuổi đời. Thứ ba, số lượng và chất lượng lao động trong DNVVN thấp, đặc biệt trong các doanh nghiệp nhỏ, nhân công thường là người trong gia đình, giám đốc thường đảm nhiệm nhiều vị trí, nhiều vai trò khác nhau. 9 Thứ tư, DNVVN dễ bị động, phụ thuộc vào thị trường. Do các đặc”điểm kể trên nên các”DNVVN bị thụ”động nhiều”hơn ở thị trường.
Cơ hội đánh thức, dẫn dắt thị”trường của họ’rất nhỏ. Các DNVVN thường”có tuổi thọ trung”bình thấp. Vai trò của doanh ’nghiệp vừa ’và nhỏ Tại nhiều“quốc’gia trên thế’giới, đặc”biệt là những quốc”gia đang’phát”triển, DNVVN luôn là nền tảng của nền kinh”tế. Chẳng hạn như khu”vực Châu”Á - Thái”Bình Dương, iiDNVVN chiếm tới 98% tổng số doanh nghiệp, tạo ra 60% việc làm của khu vực kinh tế tư nhân, 50% doanh số hay giá trị gia tăng, đóng góp 30% giá trị xuất khẩu trực tiếp.
Nhật Bản có khoảng gần 5 triệu DNVVN, chiếm tới 99,7% số doanh nghiệp của cả nước. Tại Trung Quốc, tổng số DNVVN là 39,8 triệu, chiếm 99% các doanh nghiệp hoạt động kinh doanh và 48,5% tổng số vốn kinh doanh ” [9]. Có thể nói, vai trò của DNVVN trong nền”kinh tế là không thể phủ nhận và được thể hiện ở các khía cạnh sau: [11] - DNVVN có)''khả" năng huy'động mọi nguồn" lực xã” hội, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế: Các DNVVN mang tính tư hữu cao, chủ yếu do các cá nhân có vốn tự đầu tư hoặc góp vốn cùng nhau kinh doanh ở bất cứ nơi đâu, bất kỳ lĩnh vực hoạt động nào với quy mô tùy ý nên có khả năng huy động các nguồn tiết kiệm từ người thân, bạn bè,.cho hoạt động kinh doanh của mình. Bên cạnh đó, việc phát”triển trải rộng trên cả”nước, từ thành”thị đến nông”thôn, từ những khu”vực có điều”kiện thuận”lợi đến các địa bàn vùng sâu vùng xa đều có thể tận”dụng mọi nguồn”lực lao động ở mọi lứa tuổi, mọi trình độ, kể cả các lao”động phổ”thông, lao”động là người tàn tật, mọi”nguồn nguyên”liệu.góp“phần thúc đẩy tăng”trưởng kinh”tế, tăng giá trị xuất”khẩu và làm chuyển dịch cơ cấu kinh”tế theo hướng công”nghiệp”hóa, hiện”đại hóa.
- DNVVN“góp phần giảf quyết việc"làm, tăng thu"nhập, góp phần ổn ”định xã hội: DNVVN có thể“tạo ra công”ăn, việc”làm cho nhiều lao”động. Ở những nước khác, các DNVVN là một trong những khu vực tạo ra nhiều việc làm nhất và năng động nhất, đặc biệt đối với người chưa có việc làm ở các khu đô thị, những 10 người làm nông nghiệp trong lúc nông”nhàn, những lao”động dôi”ra trong quá trình sắp”xếp lại các doanh”nghiệp nhà nước. Thêm vào đó, đa số DNVVN không đòi hỏi nhân công có trình độ chuyên môn cao mà tận dụng nguồn nhân lực tại địa phương với chi phí lao động thấp. Điều này cũng là một lợi thế và cũng là nhược điểm của DNVVN.
- DNVVN tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh: Tính cạnh tranh cao diễn ra không chỉ giữa các”DNVVN mà các doanh nghiệp”lớn cũng chịu“sức ép phải nâng cao hiệu quả kinh doanh để tồn”tại. Các DNVVN đã làm tăng“tính mềm dẻo, linh hoạt cho các doanh”nghiệp khác, buộc các doanh”nghiệp phải tự nâng cao năng lực cạnh”tranh”của mình. Với tính tự chủ cao, họ sẵn sàng chấp nhận tự do cạnh tranh và tìm cách khai thác mọi cơ hội để phát triển, góp phần khiến nền kinh tế hoạt động năng động và hiệu”quả hơn. - Làm"vệ"linh cho các doanh'nghiệp lớn và là tiền đề hình thành các”doanh nghiệp lớn: Các DNVVN có thể bổ”trợ cho các ngành công”nghiệp lớn với tư”cách là“nhà cung’cấp nguyên”liệu đầu vào, cung cấp dịch vụ, hoặc trung”gian tiêu”thụ sản phẩm đầu”ra, hoặc cũng có thể với tư cách là người gia công một vài công đoạn sản phẩm của doanh nghiệp lớn.Mặt khác, quá tình phát triển DNVVN cũng là quá trình tích tụ vốn, tìm kiếm, mở rộng thị trường để phát triển thành các doanh”nghiệp lớn.
- DNVVN gôp”phần đàó”tạo, bồi”dưỡng"doanh”nhân - nguồn nhân"lực quan trọng cho phát”triển”kinh tế - xã”hội. Chất lượng dịch vụ tín dụng đối với doanh”nghiệp vừa”và nhỏ 1.1: Khái quát về Ngân hàng thương mại và dịch vụ tín dụng: 1.1: Khái niệm Ngân hàng thương mại: Ngân hàng thương mại đã hình thành tồn tại và phát triển hàng trăm năm gắn liền với sự phát triển của kinh tế hàng hoá. Sự phát triển hệ thống ngân hàng thương mại (NHTM) đã có tác động rất lớn và quan trọng đến quá trình phát triển của nền kinh tế hàng hoá, ngược lại kinh tế hàng hoá phát triển mạnh mẽ đến giai đoạn cao nhất là nền kinh tế thị trường thì NHTM cũng ngày càng được hoàn thiện và trở thành những định chế tài chính không thể thiếu được. Thông qua hoạt động tín dụng 11 thì ngân hàng thương mại tạo lợi ích cho người gửi tiền, người vay tiền và cho cả ngân hàng thông qua chênh lệch lãi suất giữa đi vay và cho vay mà thu được lợi nhuận cho ngân hàng.
Ở Việt Nam, Theo Luật các TCTD năm 2010: iiNgan hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận” 1.2: Các chức năng của Ngân hàng thương mại: N Chức năng trung gian tín dụng Chức năng trung gian tín dụng được xem là chức năng quan trọng nhất của ngân hàng thương mại. Khi thực hiện chức năng trung gian tín dụng, NHTM đóng vai trò là cầu nối giữa người thừa vốn và người có nhu cầu về vốn. Với chức năng này, ngân hàng thương mại vừa đóng vai trò nhận tiền gửi, vừa đóng vai trò là người cho vay và hưởng lợi nhuận là khoản chênh lệch giữa lãi suất nhận gửi và lãi suất cho vay và góp phần tạo lợi ích cho tất cả các bên tham gia: người gửi tiền và người đi vay. Cho vay luôn là hoạt động quan trọng nhất của ngân hàng thương mại, nó mang đến lợi nhuận lớn nhất cho ngân hàng thương mại.
N Chức năng trung gian thanh toán Ở đây NHTM đóng vai trò là thủ quỹ cho các doanh nghiệp và cá nhân, thực hiện các thanh toán theo yêu cầu của khách hàng như trích tiền từ tài khoản tiền gửi của họ để thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ hoặc nhập vào tài khoản tiền gửi của khách hàng tiền thu bán hàng và các khoản thu khác theo lệnh của họ. Các NHTM cung cấp cho khách hàng nhiều phương tiện thanh toán tiện lợi như séc, ủy nhiệm chi, ủy nhiệm thu, thẻ rút tiền, thẻ thanh toán, thẻ tín dụng. Tùy theo nhu cầu, khách hàng có thể chọn cho mình phương thức thanh toán phù hợp. Nhờ đó mà các chủ thể kinh tế không phải giữ tiền trong túi, mang theo tiền để gặp chủ nợ, gặp người phải thanh toán dù ở gần hay xa mà họ có thể sử dụng một phương thức nào đó qua ngân hàng để thực hiện các khoản thanh toán.
Do vậy các chủ thể kinh tế sẽ tiết kiệm được rất nhiều chi phí, thời gian, lại đảm bảo thanh toán an toàn. Chức năng này vô hình trung đã thúc đẩy lưu thông hàng hóa, đẩy nhanh tốc độ thanh toán, tốc độ lưu chuyển vốn, từ đó góp phần phát triển kinh tế. 12 S Chức năng tạo tiền Tạo tiền là một chức năng quan trọng, phản ánh rõ bản chất của NHTM.