ĐẶT VẤN ĐỀ Ung thư đã và đang là vấn đề lớn đối với sức khỏe cộng đồng và là nguyên nhân gây tử vong đứng thứ hai trên toàn thế giới, chỉ sau bệnh lý tim mạch, ước tính khoảng 10 triệu ca tử vong do ung thư vào năm 2020 [1]. Tại Việt Nam, theo số liệu mới nhất năm 2020, ước tính khoảng 182.563 ca mắc mới và 122.690 ca tử vong do ung thư, xếp thứ 91/185 quốc gia về tỷ suất mắc mới và thứ 50/185 quốc gia về tỷ suất tử vong trên 100. Thứ hạng này của năm 2018 lần lượt là 99/185 và 56/185 trên thế giới. Như vậy, có thể thấy là tình hình mắc mới và tử vong do ung thư ở Việt Nam đều đang tăng nhanh [2].
Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO, 2020), cơn đau không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến thể chất mà còn làm suy giảm khả năng thực hiện các hoạt động hàng ngày và tác động tiêu cực đến tinh thần của bệnh nhân. Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng bệnh nhân ung thư đang quản lý đau có nguy cơ gặp các vấn đề về chức năng và tâm lý cao hơn, từ đó dẫn đến giảm chất lượng cuộc sống tổng thể [3]. Chính vì vậy, việc lựa chọn nhóm bệnh nhân ung thư đang quản lý đau làm đối tượng nghiên cứu là cần thiết để có cơ sở xác định các yếu tố tác động đến chất lượng cuộc sống, từ đó đề xuất các giải pháp can thiệp trong chăm sóc giảm nhẹ, cải thiện hiệu quả điều trị và hỗ trợ toàn diện cho bệnh nhân. Khái niệm “chất lượng cuộc sống” được đề cập ngày càng phổ biến trong nhiều lĩnh vực.
Trong y học, khái niệm này được cụ thể hóa thành “chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe” (HRQOL). Thuật ngữ “chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe” là một thước đo đa chiều, đề cập đến sức khỏe tổng thể của một cá nhân, bao gồm các khía cạnh tinh thần, tình cảm, xã hội và thể chất của cá nhân đó. Gần đây trong lĩnh vực ung thư, chất lượng cuộc sống được xem như một trong các thước đo tiêu chuẩn để đánh giá hiệu quả điều trị và phản ánh quan điểm của bệnh nhân về tác động của chẩn đoán và điều trị ung thư đối với cuộc sống hàng ngày [4]. Do vậy, việc tìm hiểu các yếu tố liên quan đến chất lượng cuộc sống giúp định hướng các can thiệp lên các vấn đề về thể chất và tâm lý là rất cần thiết, để từ đó nâng cao chất lượng cuộc sống của bệnh nhân ung thư.
1 Tại Việt Nam đã có một số nghiên cứu nhằm khám phá đặc điểm và các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của bệnh nhân ung thư. Tuy nhiên, cho đến nay, vẫn chưa có nghiên cứu chuyên sâu nào tập trung vào nhóm bệnh nhân ung thư được chăm sóc giảm nhẹ, đặc biệt là tại Bệnh viện Hữu Nghị Lạc Việt – một cơ sở y tế đang đối mặt với nhu cầu cải thiện chất lượng cuộc sống của bệnh nhân ung thư đang điều trị đau. Sự gia tăng của các ca ung thư và mức độ nghiêm trọng của cơn đau không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe thể chất mà còn tác động sâu sắc đến tâm lý, xã hội và tài chính của bệnh nhân và gia đình. Điều này làm dấy lên nhu cầu cấp thiết trong việc đánh giá tổng thể chất lượng cuộc sống của bệnh nhân, qua đó cung cấp dữ liệu thực nghiệm cho các chiến lược chăm sóc giảm nhẹ và quản lý cơn đau hiệu quả.
Với mong muốn góp phần cải thiện chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân ung thư đang điều trị đau tại Bệnh viện Hữu Nghị Lạc Việt, chúng tôi tiến hành đề tài nghiên cứu: “Phân tích chất lượng cuộc sống của bệnh nhân ung thư đang sử dụng thuốc giảm đau tại bệnh viện Hữu Nghị Lạc Việt”. Nghiên cứu này được xây dựng với hai mục tiêu chính: • Mục tiêu 1: Mô tả chi tiết các đặc điểm chất lượng cuộc sống của bệnh nhân ung thư đang quản lý đau tại Bệnh viện Hữu Nghị Lạc Việt, từ đó làm rõ mức độ tác động của cơn đau đối với sức khỏe tổng thể, bao gồm khía cạnh thể chất, tâm lý, xã hội và kinh tế. • Mục tiêu 2: Phân tích một số yếu tố liên quan đến chất lượng cuộc sống của bệnh nhân ung thư đang quản lý đau, nhằm xác định mối liên hệ giữa cường độ cơn đau với các khía cạnh sức khỏe khác và từ đó đề xuất các biện pháp can thiệp cụ thể, hướng tới việc nâng cao chất lượng chăm sóc giảm nhẹ. Thông qua nghiên cứu này, chúng tôi không chỉ kỳ vọng sẽ cung cấp những bằng chứng khoa học quý giá để hỗ trợ các nhà quản lý và chuyên gia y tế trong việc điều chỉnh phương pháp chăm sóc và xây dựng chính sách, mà còn góp phần định hướng phát triển các chương trình đào tạo, nâng cao năng lực cho đội ngũ y tế chuyên sâu về chăm sóc giảm nhẹ.
Kết quả của nghiên cứu sẽ giúp xác định những thách thức 2 cũng như nhu cầu thực tế của bệnh nhân ung thư trong bối cảnh hiện nay, từ đó tạo tiền đề cho việc cải tiến dịch vụ y tế hướng tới một mô hình chăm sóc toàn diện và nhân văn hơn trong tương lai. Tổng quan về bệnh ung thư và quản lý đau trong điều trị ung thư 1. Bệnh ung thư 1. Khái niệm và đặc điểm bệnh ung thư Ung thư là một thuật ngữ chung cho một nhóm gồm nhiều bệnh khác nhau trong đó các tế bào tăng sinh một cách bất thường, không có kiểm soát và có thể xâm lấn vào các tổ chức xung quanh.
Tế bào ung thư có khả năng di căn tới các hạch bạch huyết hoặc các tạng ở xa, hình thành các khối u mới và cuối cùng dẫn tới tử vong. Cùng với di căn xa, tính chất nhiều bệnh ung thư có thể tái phát sau khi điều trị, điều này làm cho việc quản lý bệnh sẽ khó khăn và ảnh hưởng xấu đến tiên lượng bệnh [5], [6]. Dịch tễ bệnh ung thư Theo thống kê của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), ước tính năm 2020 có khoảng 19,3 triệu ca mắc mới với các loại ung thư phổ biến bao gồm ung thư vú (11,7%), ung thư phổi (11,4%), ung thư đại trực tràng (10%), ung thư tuyến tiền liệt (7,3%), ung thư dạ dày (5,6%), ung thư gan (4,7%), ung thư cổ tử cung (3,1%) và ung thư thực quản (3,1%). Ung thư trở thành nguyên nhân gây tử vong đứng thứ hai trên thế giới, với số lượng ca tử vong tăng từ 9,6 triệu ca (năm 2018) lên 9,9 triệu ca (năm 2020).
Gánh nặng ung thư tiếp tục gia tăng trên toàn cầu, gây tác động lớn đến vấn đề thể chất, tâm lý và tài chính của cá nhân, gia đình, cộng đồng và toàn bộ hệ thống y tế; ước tính đến năm 2040, số lượng ca mắc mới có thể lên đến 30,2 triệu người [7]. Tại Việt Nam, theo số liệu mới nhất năm 2020, ước tính khoảng 182.563 ca mắc mới và 122.690 ca tử vong do ung thư, xếp thứ 91/185 quốc gia về tỷ suất mắc mới và thứ 50/185 quốc gia về tỷ suất tử vong trên 100. Thứ hạng này của năm 2018 lần lượt là 99/185 và 56/185 trên thế giới. Như vậy, có thể thấy là tình hình mắc mới và tử vong do ung thư ở Việt Nam đều đang tăng nhanh [2].
Các phương pháp điều trị ung thư Đặc tính cơ bản của bệnh ung thư là tế bào phát triển mạnh tại chỗ không 4 chịu sự kiểm soát của cơ thể, xâm lấn rộng ra các vùng tổ chức xung quanh, di căn xa vào hệ thống bạch huyết và các cơ quan. Do đó, điều trị bệnh ung thư tùy theo loại, giai đoạn bệnh, mô bệnh học, thể trạng người bệnh,…mà cần điều trị một hoặc phối hợp nhiều phương pháp trong đó phẫu thuật là phương pháp điều trị tại chỗ; xạ trị là phương pháp điều trị tại vùng; hóa chất, nội tiết, điều trị đích, miễn dịch là phương pháp điều trị toàn thân [5], [8], [9]. ➢ Các phương pháp điều trị tại chỗ, tại vùng: Phẫu thuật: Phẫu thuật dùng để điều trị triệt căn với trường hợp bệnh nhân ở giai đoạn sớm - tổn thương khu trú chưa có di căn xa; bằng cách cắt rộng, lấy toàn bộ khối ung thư và một phần tổ chức lành bao quanh, vét toàn bộ hạch vùng với mục đích không còn để sót lại tế bào ung thư; thường áp dụng cho các loại ung thư như dạ dày, đại trực tràng, vú, cổ tử cung, … [5], [9]. Phẫu thuật điều trị tạm thời chỉ định cho trường hợp bệnh ở giai đoạn muộn, tổn thương đã lan rộng.
Trong trường hợp này phẫu thuật không thể lấy hết được những tổ chức ung thư đã xâm lấn rộng ra xung quanh, do đó có thể dẫn đến tái phát tại chỗ kèm theo di căn xa nếu chỉ được điều trị bằng phẫu thuật đơn độc [5], [9]. Xạ trị: Là phương pháp dùng tia bức xạ ion hóa có năng lượng cao để tiêu diệt các tế bào ung thư, phương pháp này tiêu diệt được các tế bào ung thư đã xâm lấn rộng ra các vùng xung quanh khối u nguyên phát, là nơi mà không thể phẫu thuật được. Xạ trị có thể dùng đơn độc, ví dụ trong ung thư vòm họng; hoặc phối hợp với phẫu thuật, hóa chất. Xạ trị phối hợp với phẫu thuật thường được áp dụng trong trường hợp ung thư đã phát triển tương đối lớn; có khi xạ trị trước mổ nhằm giảm bớt thể tích u, hạn chế di căn xa trong lúc mổ; có khi xạ trị sau mổ nhằm diệt nốt những tế bào ung thư còn sót lại sau mổ.
Xạ trị phối hợp với hoá chất để tăng khả năng diệt tế bào ung thư tại một khu vực mà điều trị hoá chất không đủ khả năng diệt hết [5], [9]. ➢ Các phương pháp điều trị toàn thân: Khoảng 1/3 số bệnh nhân ung thư khi phát hiện bệnh, chẩn đoán còn ở giai đoạn tại chỗ, chưa có di căn xa, nên có thể chỉ cần điều trị bằng các phương pháp 5 tại chỗ. Nhưng khoảng 2/3 số bệnh nhân khi phát hiện đã ở giai đoạn muộn, đã có di căn xa hoặc nghi ngờ có di căn xa. Các trường hợp này cần có các phương pháp điều trị toàn thân, bao gồm các liệu pháp: điều trị bằng hóa chất, điều trị nội tiết, điều trị (nhắm) đích và điều trị miễn dịch [5], [9], [10].