Chương 1: Cơ sở lý luận về chất lượng học tập trực tuyến của sinh viên. Chương 2: Khảo sát chất lượng học tập trực tuyến của sinh viên Học viện Hành chính Quốc gia. Chương 3: Đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng học tập trực tuyến của sinh viên Học viện Hành chính Quốc gia trong thời gian tới. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG HỌC TẬP TRỰC TUYẾN CỦA SINH VIÊN 1.
Học trực tuyến của sinh viên 1. Khái niệm sinh viên, đặc điểm của sinh viên Sinh viên là những người học tập tại các trường đại học, cao đẳng, trung cấp. Ở đó họ được truyền đạt kiến thức bài bản về một ngành nghề, chuẩn bị và phục vụ cho công việc sau này của họ. Họ được xã hội công nhận qua những bằng cấp đạt được trong quá trình theo học.[12] Theo quy chế công tác học sinh, sinh viên trong các trường đào tạo: Sinh viên là những người đang học trong hệ đại học và cao đẳng, trung cấp.
Trong cuốn tâm lý học sư phạm của Phạm Minh Hạc: Sinh viên là những người làm việc nhiệt tình, người tìm hiểu và khai thác tri thức. Trong từ điển tiếng Việt của Hoàng Phê: “Thuật ngữ này được dùng để chỉ những người đang theo học ở bậc đại học, cao đẳng. Theo chúng tôi, sinh viên là những người trưởng thành về thể chất, xã hội và tâm lý, đó là những người ở độ tuổi khoảng 18 đến 25 tuổi và đang theo học tại các trường đại học, cao đẳng”.[6] Thuật ngữ sinh viên có nghĩa là những người làm việc và học tập tích cực, tìm hiểu và khai thác tri thức khoa học.Kôn, “Sinh viên là một bộ phận của thanh niên, mặt khác lại là một bộ phận của giới trí thức”. Có thể nói sinh viên là một nhóm xã hội đặc thù, nhóm xã hội này vừa mang những đặc điểm chung của tầng lớp thanh niên vừa có những đặc điểm riêng của mình như: Sinh viên được xác định là những thanh niên độ tuổi từ 18 đến 25 tuổi.[4] Như vậy có thể thấy có rất nhiều khái niệm sinh viên khá thống nhất, nhất quán với nhau, mỗi quan điểm đều có cách diễn đạt khác nhau, nhưng mỗi cách nói đều hướng về một chủ thể là sinh viên.
Từ đó nhóm nghiên cứu có thể đưa ra khái niệm sinh viên như sau: “Sinh viên là chủ thể cá nhân đang trong quá trình học tập ở bậc đại học, cao đẳng hoặc các trường đào tạo chuyên nghiệp khác là những 10 người trẻ tuổi. Mang trong mình khát vọng hoài bão học tập, tự tin, dũng cảm, tri thức và dám theo đuổi ước mơ để trở thành một công dân có ích, cống hiến cho sự nghiệp phát triển của đất nước”. Đặc điểm của sinh viên Thứ nhất, sinh viên trước hết mang đầy đủ những đặc điểm chung của con người, mà theo C.Mác là “tổng hoà của các quan hệ xã hội”. Nhưng họ còn mang những đặc điểm riêng: Tuổi đời trẻ, thường từ 18 đến 25 tuổi, dễ thay đổi, chưa định hình rõ rệt về nhân cách, ưa các hoạt động giao tiếp, có tri thức và đang được đào tạo chuyên môn.
Sinh viên đang hoặc đã đăng ký tham gia vào các khóa học cao đẳng hoặc đại học. Họ đang theo học những ngành học cụ thể và có mục tiêu học tập. Sinh viên vì thế dễ tiếp thu cái mới, thích cái mới, thích sự tìm tòi và sáng tạo. Đây cũng là tầng lớp xưa nay vẫn khá nhạy cảm với các vấn đề chính trị- xã hội, đôi khi cực đoan nếu không được định hướng tốt.
Thứ hai, một đặc điểm rất đáng chú ý đang xuất hiện trong những người trẻ ngày nay, liên quan đến sự phát triển của công nghệ thông tin với tư cách là một cuộc cách mạng, đó là sự hình thành một môi trường ảo, hình thành một lối sống ảo. Đặc điểm này chỉ biểu hiện trong giới trẻ, đặc biệt những người có tri thức như sinh viên. Hình thành một phương pháp tư duy của thời đại công nghệ thông tin: Ngôn ngữ ngắn gọn, viết bằng bàn phím thay vì cây bút, có tính lắp ghép chính xác, hệ thống, hạn chế sự bay bổng về mặt hình tượng trực quan. Con người vì thế sống trong một môi trường ảo, và cái hiện thực ở đây là cái hiện thực ảo, giao tiếp ảo.
Về môi trường sống, sinh viên thường theo học tập trung tại các trường Đại học và Cao đẳng (thường ở các đô thị), sinh hoạt trong một cộng đồng (trường, lớp) gồm chủ yếu là những thành viên tương đối đồng nhất về tri thức, lứa tuổi, với những quan hệ có tính chất bạn bè khá gần gũi.[11] 11 Thứ ba, sinh viên đều có chung cho mình những yếu tố sau đây để hoàn thiện đặc điểm sinh viên: Tích cực trong việc học: Sinh viên thường có động lực cao để học tập và đạt thành tích tốt. Họ có thể tham gia vào các hoạt động ngoại khóa, câu lạc bộ học thuật và các dự án nghiên cứu. Thời gian: Sinh viên có thể có một lịch trình học tập căng thẳng, với các buổi học, bài tập, bài kiểm tra và dự án nghiên cứu. Họ thường phải quản lý thời gian của mình để cân bằng giữa học tập, công việc và các hoạt động cá nhân.
Mục tiêu nghề nghiệp: Sinh viên thường có mục tiêu nghề nghiệp cụ thể và đang nỗ lực hoàn thiện bằng cấp để có thể tìm được công việc trong lĩnh vực mình chọn. Tính tự chủ: Sinh viên thường phải tự quản lý và tự chịu trách nhiệm cho việc học tập và cuộc sống hàng ngày. Họ phải tự lập kế hoạch, tổ chức và thực hiện các nhiệm vụ học tập. Tính sáng tạo: Sinh viên thường có khả năng tư duy sáng tạo và khám phá, đặt ra câu hỏi và tìm kiếm các giải pháp mới cho các vấn đề khó khăn trong quá trình học tập.
Tuy nhiên, đặc điểm của mỗi sinh viên có thể khác nhau, phụ thuộc vào cá nhân và ngữ cảnh học tập của họ. Khái niệm học tập trực tuyến của sinh viên Học trực tuyến (E-Learning) là hình thức học tập xuất hiện dưới sự phát triển của công nghệ thông tin. Trong đó, người học sẽ tham gia các lớp học ảo trên mạng internet thay vì tới các lớp học hữu hình truyền thống. Dưới đây là một số ví dụ sẽ giúp người học hiểu rõ hơn về học tập trực tuyến.[17] 12 Học trực tuyến là một phương pháp tiếp cận giáo dục dựa trên các nền tảng cho phép người sử dụng kết nối và trò chuyện qua video hoặc tích hợp với cuộc gọi âm thanh.[14] Ví dụ 1: Trong thời điểm dịch Covid-19 bùng phát, nhiều trường học không thể tổ chức dạy tập trung nên đã chuyển đổi sang dạy trực tuyến thông qua Google Meet, Microsoft Teams, hệ sinh thái giáo dục myViewBoard.[16] Theo Curtain (2002), được trích dẫn tại Sinngh & Thurman, Nguyễn Hữu Cương tạm dịch: “Học tập trực tuyến” có thể được định nghĩa rộng là việc sử dụng internet theo một cách nào đó để nâng cao sự tương tác giữa giáo viên và học sinh.
Giảng dạy trực tuyến bao gồm cả các hình thức tương tác không đồng bộ, chẳng hạn như công cụ đánh giá và cung cấp tài liệu khóa học dựa trên web và tương tác đồng bộ thông qua email, nhóm tin tức và các công cụ hội thảo, chẳng hạn như nhóm trò chuyện. Nó bao gồm cả dạy học dựa trên lớp học cũng như các phương thức giáo dục từ xa. Các thuật ngữ khác đồng nghĩa với học trực tuyến là “giáo dục dựa trên web” và “học tập trực tuyến”.[11] Dạy học trực tuyến (E-learning) là hình thức giảng dạy và học tập ở các lớp học trên internet. Người dạy và người học sẽ sử dụng phần mềm nền tảng học trực tuyến, ứng dụng truyền âm thanh, hình ảnh và các thiết bị thông minh (laptop, smartphone, máy tính bảng).
Các bài giảng, tài liệu (dưới dạng văn bản, hình ảnh, video) được đưa lên các nền tảng và người dùng có thể dễ dàng truy cập và học mọi lúc mọi nơi. Bên cạnh đó còn có các khóa học cùng thời gian thực có sự tham gia và tương tác giữa giảng viên và sinh viên. Học tập trực tuyến là việc sử dụng internet để truy cập tài liệu học tập; để tương tác với nội dung, người hướng dẫn và những người học khác; và nhận được sự hỗ trợ trong quá trình học tập, để thu nhận kiến thức, xây dựng ý nghĩa cá nhân và phát triển từ kinh nghiệm học tập. Học tập trực 13 tuyến cho phép linh hoạt về thời gian và không gian (Cole, 2000).
Học tập trực tuyến có nhiều hứa hẹn, nhưng nó cần có sự cam kết và nguồn lực và phải được thực hiện đúng (Rossett, 2002). Tài liệu học tập trực tuyến phải được thiết kế phù hợp, lấy người học làm trọng tâm và việc học tập phải được cung cấp đầy đủ. Ring & Mathieux, (2002) cho rằng học tập trực tuyến nên có tính xác thực cao, tính tương tác cao và cộng tác cao.[5] Như vậy có thể thấy có rất nhiều khái niệm trong và ngoài nước về học tập trực tuyến khá nhất quán với nhau, mỗi quan điểm đều có cách diễn đạt khác nhau, nhưng mỗi cách nói đều hướng về một vấn đề là học tập trực tuyến. Từ đó, nhóm nghiên cứu có thể đưa ra khái niệm học tập trực tuyến của sinh viên như sau: “Học tập trực tuyến của sinh viên được hiểu là hình thức học tập được mọi lúc mọi nơi thông qua điện thoại, laptop, máy tính bảng có sử dụng internet để truy cập vào các ứng dụng học tập trực tuyến trong thời gian thực hay các khóa học có sẵn, sinh viên được chủ động lựa chọn được các khóa học trực tuyến phù hợp với nhu cầu và khả năng học của bản thân”.
Đặc điểm và điều kiện thực hiện học tập trực tuyến của sinh viên Đặc điểm học tập trực tuyến của sinh viên bao gồm: - Về sự linh hoạt: Sinh viên có thể tự chọn thời gian và địa điểm học tập, không bị ràng buộc bởi lịch trình cố định. Tự chủ trong thời gian học tập, sinh viên có thể học bất cứ lúc nào họ muốn (24/7). Điều này giúp sinh viên linh hoạt sắp xếp thời gian học tập phù hợp với lịch trình cá nhân, công việc và các hoạt động khác. Ví dụ: Sinh viên có thể học vào buổi sáng sớm, buổi tối hoặc vào cuối tuần, tùy theo thời gian rảnh của họ; Tự chủ trong địa điểm học tập: Sinh viên có thể học ở bất cứ nơi nào có kết nối internet, điều này giúp sinh viên học tập mọi lúc mọi nơi, không bị giới hạn bởi không gian lớp học truyền thống.