CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ THẺ ATM CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. TỔNG QUAN VỀ DỊCH VỤ THẺ ATM CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Khái niệm và đặc điểm của thẻ ATM 1. Khái niệm Lịch sử thẻ ngân hàng bắt nguồn từ việc các đại lý bán lẻ cung cấp tín dụng cho khách hàng (mua hàng truớc, trả tiền sau).Nhieu đại lý nhỏ không đủ khả năng cung cấp tín dụng cho các khách hàng của họ tạo điều kiện cho các tổ chức tài chính vào cuộc.
Sau đây là vài cột mốc lịch sử quan trọng đánh dấu sự ra đời và phát triển của thẻ thanh toán: - Vào năm 1946, dạng đầu tiên của thẻ ngân hàng là Charg - It của ngân hàng John Biggins xuất hiện tại Mỹ. Đó là một hệ thống tín dụng cho phép các khách hàng thực hiện giao dịch nội địa bằng các “phiếu” có giá trị do ngân hàng phát hành. Hệ thống này là tiền đề cho việc phát hành thẻ tín dụng ngân hàng đầu tiên của ngân hàng Franklin National, New York vào năm 1951. Những tiện ích của chiếc thẻ nhỏ bé này đã ngay lập tức gây đuợc sự chú ý và chinh phục đuợc một luợng khách hàng đông đảo.
Còn với những nhà bán lẻ, tuy phải chịu mức chiết khấu 5%, nhung doanh thu của họ đã tăng lên đáng kể do luợng khách hàng tăng lên nhanh chóng. Đến năm 1960, ngân hàng Bank of America giới thiệu sản phẩm thẻ ngân hàng riêng của mình. Từ đó, thẻ Bank Americad ra đời. Để liên kết cạnh tranh với tổ chức của Bank of America, vào năm 1964, 14 ngân hàng Mỹ liên kết thành tổ chức Interbank (Interbank Card Association - ICA).
Ngay sau đó vào năm 1967, bốn ngân hàng California đổi tên từ California Bankcard Association thành Western States BankCard Association (WSBA). Sản phẩm thẻ của tổ chức WSBA là Master Charge. Tổ chức WSBA cũng cấp phép cho tổ chức Interbank sử dụng tên và thuơng hiệu của Master Charge. 7 thành Visa International.
Đến năm 1979, Master Charge đổi tên thành MasterCard. Các thành viên của hai tôr chức này cũng như bản thân hai tổ chức bắt đầu mua các chương trình phần mềm cũng như các thiết bị phần cứng phát hành, thanh toán và quản lý thẻ của các công ty bên ngoài với mục đích tiết kiệm chi phí cho các thành viên và tạo điều kiện cho ngày càng nhiều các tổ chức tài chính ngân hàng có thể tham gia hệ thống Đến những năm 1990 thẻ bắt đầu xuất hiện tại Việt Nam thông qua các khách du lịch quốc tế và cho đến nay thẻ ngân hàng đã được công chúng hưởng ứng sử dụng tích cực. Ngày nay, người ta đang chứng kiến sự lên ngôi của thẻ thanh toán thay thế séc trong lĩnh vực thanh toán qua ngân hàng. Dịch vụ thẻ đã được sử dụng rộng rãi tại nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ.
Số lượng thẻ đã phát hành và đang sử dụng gia tăng. Doanh số thanh toán thẻ toàn thế giới tăng trong 2 năm gần đây. Hai loại thẻ được phát hành và sử dụng nhiều nhất là Visa card và Master Card, trong đó Visa chiếm 50% thị phần về phát hành và 45% doanh số thanh toán, Master chiếm 30% phát hành và 25% thanh toán Thẻ thanh toán là phương tiện thanh toán mà người sở hữu thẻ có thể sử dụng nó để rút tiền mặt tại các máy, các quầy tự động của ngân hàng đồng thời có thể sử dụng thẻ để thanh toán tiền hàng hoá dịch vụ tại các cơ sở chấp nhận thẻ và còn là phương tiện để chủ thẻ có thể giao dịch với ngân hàng mà không cần gặp nhân viên ngân hàng. Theo quy định của Ngân hàng nhà nước (Quy chế phát hành, sử dụng và thanh toán thẻ ngân hàng, ban hành kèm theo quyết định số 371/1999/QĐ-NHNN1 ngày 19.1999) thẻ ngân hàng được hiểu là “Công cụ thanh toán do ngân hàng phát hành thẻ cấp cho khách hàng sử dụng theo hợp đồng ký kết giữa ngân hàng phát hành và chủ thẻ””.
Như vậy thẻ thanh toán cũng là một phương tiện thanh toán không dùng 8 mặt. Trên thẻ phải có đủ các thông tin sau: Mặt trước của thẻ ghi: - Logo của loại thẻ (Ví dụ Masters Card có dòng chữ “Masters Card” chạy giữa 2 vòng tròn màu da cam và đỏ lồng vào nhau. - Số thẻ được in nổi: là số dành riêng cho mỗi chủ thẻ. Số này được dập nổi trên thẻ và sẽ được in lại trên hoá đơn khi chủ thẻ đi mua hàng.
- Tên người sử dụng được in nổi. - Ngày hiệu lực của thẻ: là thời hạn mà thẻ được lưu hành - Biểu tượng con chip (nếu thẻ được phát hành theo công nghệ Chip chuẩn EMV) Mặt sau của thẻ: - Dãy băng từ có khả năng lưu trữ những thông tin đã được mã hóa theo một chuẩn thống nhất như: số thẻ, ngày hết hạn, các yếu tố kiểm tra an toàn khác. - Ô chữ kỹ mẫu của chủ thẻ - Số CVV/CVC/CVV2: được sử dụng trong các giao dịch TT trực tuyến - Các thông tin hỗ trợ khách hàng như hotline, email, mã khách hàng,. Phân loại thẻ ATM 1.
Theo tính chất thanh toán Thẻ thanh toán bao gồm 4 loại sau: - Thẻ ghi nợ (Debit card): là phương thức TT, chi trả cho các hoạt động mua sắm hoặc rút tiền mặt trên tài khoản NH của chính chủ thẻ gửi tại NH. Thẻ này không không cho phép KH rút vượt số dư trong TK. Với mỗi giao dịch, NH sẽ tự động trừ lượng tiền tương ứng trên TK đó. Khách hàng có thể rút tiền mặt hoặc giao dịch tại máy ATM.
TGN có hai loại cơ bản, đó là: + Thẻ on-line: là thẻ ghi nợ mà giá trị những giao dịch được khấu trừ ngay lập tức vào tài khoản của chủ thẻ + Thẻ off-line: là thẻ ghi nợ mà giá trị những giao dịch sẽ được khấu trừ vào 9 định không phải trả lãi để mua hàng hoá, dịch vụ tại những cơ sở, cửa hàng kinh doanh, khách sạn. chấp nhận loại thẻ này. Sử dụng thẻ này, NH thoả thuận cấp một hạn mức cho chủ thẻ và chủ thẻ được sử dụng trong hạn mức đó, đến thời hạn quy định phải hoàn trả cho NH nếu không thanh toán số dư nợ thì phải chịu lãi suất đã thoả thuận trước. Do đó, cơ sở sử dụng thẻ tín dụng là phát hành trên tài khoản tiền vay Ngân hàng.
- Thẻ lệ phí (Charge Card): là chiếc thẻ thanh toán có sẵn một tài khoản tín dụng tự động mà người sở hữu có quyền sử dụng trong một khoảng thời gian nhất định. Chủ thẻ không phải trả lãi suất nhưng chủ thẻ phải thanh toán toàn bộ số dư (số tiền đã sử dụng: thanh toán hoặc rút tiền mặt bằng thẻ) trong thời hạn mà Chủ thẻ nhận được thông báo giao dịch (thường là 01 tháng). So với thẻ tín dụng thì thẻ lệ phí là có hạn mức (số tiền sử dụng tối đa) cao và thường là không có giới hạn. Còn thẻ tín dụng thì hạn mức tùy thuộc vào thu nhập thực tế của khách hàng và có giới hạn.
Tuy nhiên thẻ lệ phí tính phí cho hầu hết các giao dịch của khách hàng trong khi thẻ tín dụng thường không tính phí hoặc tính 1 khoản phí nhỏ đối với giao dịch của khách hàng. Hiện nay, thẻ lệ phí thông dụng trên thế giới là thẻ American Express, Dinner Club, JCB,. - Thẻ rút tiền mặt (Cash Card): là loại thẻ được dùng để rút tiền mặt tại các ATM hoặc tại các Ngân hàng. Để được sử dụng loại thẻ này, chủ thẻ phải ký quỹ tiền gửi tại tài khoản ở Ngân hàng hoặc chủ thẻ phải được cấp tín dụng thấu chi, bao gồm hai loại: + Loại 1: Loại chỉ dùng để rút tiền mặt tại những máy rút tiền tự động của ngân hàng phát hành + Loại 2: Loại thẻ không chỉ sử dụng để rút tiền ở ngân hàng phát hành mà còn sử dụng để rút tiền ở các ngân hàng c ng tham gia thanh toán với ngân hàng phát hành thẻ.
Theo công nghệ sản xuất thẻ Bao gồm bốn loại như sau: - Thẻ khắc chữ nổi (Embossing Card): Là loại thẻ sơ khai ban đầu, các thông 10 tin cơ bản được khắc nổi trên thẻ, loại này nhanh chóng bị thay thế bởi tính bảo mật kém, dễ làm giả. - Thẻ từ (Magnetic stripe): Thẻ được phủ một băng từ với 2 hoặc 3 dải ghi các thông tin cần thiết. Các thông tin này thường là thông tin cố định về chủ thẻ và về thẻ cũng như số liệu kết nối. Khi trình độ công nghệ phát triển, nó đã bộc lộ những điểm yếu do mức độ bảo mật không cao, dễ bị kẻ gian lợi dụng đọc thông tin và làm giả thẻ hoặc tạo các giao dịch giả, gây thiệt hại cho chủ thẻ hoặc NH.
+ Thẻ Chip (Smart Card - Thẻ thông minh): Thẻ được sản xuất dựa trên nền tảng kỹ thuật vi xử lý. Mặt trước của thẻ được gắn một Chip điện tử theo nguyên tắc xử lý như một máy tính nhỏ. Đây là thế hệ mới nhất và hiện đại nhất của thẻ hiện nay, nó đã khắc phục được nhiều nhược điểm của thẻ từ, đảm bảo tính an toàn cao và có thể sử dụng cho các mục đích khác nhau như gọi điện thoại công cộng, trả cước phí cầu đường, mua xăng dầu. Tuy nhiên chi phí để sản xuất thẻ “chip” vẫn còn cao.
+ Thẻ từ có chip: Là loại thẻ từ có gắn cả chip, nhằm mục đích sử dụng được cả trên 2 hệ thống chấp nhận thanh toán thẻ từ và hệ thống thanh toán thẻ chip. Theo chủ thể phát hành - Thẻ do Ngân hàng phát hành là loại thẻ do NH phát hành giúp cho KHsử dụngTK của họ mở ở NH một cách hiệu quả và thuận tiện, hoặc sử dụng mộtsố tiền do NH cấp tín dụng. Hiện nay thẻ này đang được sử dụng phổ biến, nó không chỉ được lưu hành trong một quốc qua mà còn cóthể lưu hành trên toàn cầu. - Thẻ do tổ chức phi Ngân hàng phát hành:là loại thẻ du lịch và giải trí của các tập đoàn kinh doanh lớn hoặc các công ty xăng dầu lớn, các cửa hiệu lớn như Diners Club, Amex.
hoặc liên doanh với các tổ chức tài chính, ngân hành để phát hành. - Theo hình thức liên kết phát hành hay thẻ đồng thương hiệu: Là loại thẻ được phát hành dựa trên thoả thuận hợp tác giữa NNHPH với các đối tác liên kết của Ngân hàng như thẻ đồng thương hiệu BIDV Manchester United. Đặc điểm của thẻ đồng thương hiệu là logo của NHPH song hành với Logo của Tổ chức liên kết trên bề mặt thẻ. Khi sử dụng thẻ khách hàng nhận được nhiều 11 1.
Khái niệm và vai trò của dịch vụ thẻ ATM 1.