CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ DỊCH VỤ PHI TÍN DỤNG VÀ CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ PHI TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DỊCH VỤ PHI TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Dịch vụ Do tính chất phức tạp và vô hình của dịch vụ nên hiện nay các nhà nghiên cứu vẫn chưa đưa ra một khái niệm thống nhất về dịch vụ. Chẳng hạn, Từ điển bách khoa Việt Nam giải thích: “Dịch vụ là các hoạt động nhằm thỏa mãn những nhu cầu sản xuất kinh doanh và sinh hoạt” [37].
Cách giải thích này còn chung chung và chưa thực sự làm rõ được bản chất dịch vụ. Trong cuốn “Lựa chọn bước đi và giải pháp để Việt nam mở cửa về dịch vụ thương mại” [32] đã đưa ra khái niệm về ịch vụ như sau: “Dịch vụ là các lao động của con người được kết tinh trong giá trị của kết quả hay trong giá trị các loại sản phẩm vô hình và không thể cầm nắm được”. So với cách giải thích của Từ điển bách khoa Việt Nam, cách giải thích này làm rõ hơn nội hàm của dịch vụ là kết tinh sức lao động của con người trong các sản phẩm vô hình. Từ các quan điểm khác nhau đó, có thể đưa ra một khái niệm vê dịch vụ như sau: Dịch vụ là các lao động của con người được kết tinh trong các sản phẩm vô hình nhằm thỏa mãn những nhu cầu sản xuất và sinh hoạt của con người.
Dịch vụ của Ngân hàng thương mại 1. Khái niệm dịch vụ của Ngân hàng thương mại Hiện nay, tại mỗi quốc gia có cách hiểu về dịch vụ mà chưa có sự thống nhất trong định nghĩa. Hiệp định chung về thương mại (GATS) của Tổ chức thương mại Thế giới cũng không nếu khái niệm về dịch vụ mà thay vào đó là chia thành 12 ngành lớn. Trong các ngành liệt kê các hoạt động dịch vụ cụ thể.
Dịch vụ tài chính được xếp thứ 7. Dịch vụ tài chính bao gồm: Dịch vụ bảo hiêm và liên quan đến bảo hiểm, dịch vụ ngân hàng và dịch vụ tài chính khác. “Quản trị Ngân hàng thương mại” của Peter S. Rose cho rằng: “Ngân hàng là loại hình tổ chức tài chính cung cấp 7 một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất, đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và các dịch vụ thanh toán và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế”.
Và được giải thích: “Mọi Ngân hàng hoạt động với 3 hoạt động cơ bản là huy động vốn; Hoạt động sử dụng vốn; Các hoạt động khác như thanh toán, ngân quỹ. Theo Luật các Tổ chức tín dụng Việt Nam có quy định dịch vụ Ngân hàng nhưng không nêu ra định nghĩa mà đưa ra cụm từ “Hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ Ngân hàng” được bao gồm các nội dung: Nhận tiền gửi, cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán. Theo Chương 3 của Luật này đã nêu các điều khoản vê hoạt động Ngân hàng được chia theo 4 mảng lớn: Huy động vốn, tín dụng, thanh toán, ngân quỹ và các hoạt động khác[38]. Đặc điểm dịch vụ của Ngân hàng thương mại • Dịch vụ Ngân hàng có đặc điểm là không hiện hữu Đây là đặc điểm chính để phân biệt DVNH với các dịch vụ của các ngành sản xuất vật chất khác trong nền kinh tế quốc dân.
DVNH không thể nhìn thấy được, cảm nhận được, nghe được trước khi mua chúng. KH khi gửi tiền tại một NH không thể biết chắc chắn số tiền của mình có được an toàn hay không? Số tiền nhận được khi đáo hạn có đúng hẹn hay không? Do vậy, hoạt động kinh doanh Ngân hàng (NH) là dựa trên cơ sở lòng tin. NH phải hướng vào việc củng cố và tạo ra lòng tin đối với KH khi sử dụng dịch vụ bằng cách nâng cao chất lượng dịch vụ cung ứng, tăng tính hữu hnh của dịch vụ, quảng cáo tăng hình ảnh của NH, uy tín, tạo điều kiện để KH tham gia và hoạt động tuyên truyền cho NH. • Dịch vụ NH có tính không ổn định và khó xác định chất lượng Chất lượng dịch vụ mang tính không đồng nhất.
Dịch vụ gắn chặt với người cung cấp dịch vụ. Chất lượng dịch vụ phụ thuộc chặt chẽ vào người thực hiện cung cấp dịch vụ (trình độ, kỹ năng. Hơn nữa với cùng một cá nhân cung ứng dịch vụ thì chất lượng dịch vụ cũng có thể thay đổi theo thời gian. • Dịch vụ NH có đặc tính không tách rời giữa quá trình cung ứng và tiêu dùng dịch vụ 8 Quá trình cung ứng và tiêu dùng DVNH diễn ra đồng thời, với sự tham gia trực tiếp của KH ở bất cứ thời điểm nào KH cần tới.
Vì vậy, dảm bảo cung ứng DVNH ở mọi thời điểm và xem trọng yếu tố KH trong hoạt động kinh doanh NH là hết sức quan trọng. Kết quả của dịch vụ sẽ bị ảnh hưởng từ hai phía: NH và KH. Do đó, để đáp ứng tốt nhất nhu cầu của KH, NH không chỉ quan tâm tới việc đảm bảo khả năng và kỹ thuật của NH trong cung ứng dịch vụ, huấn luyện nhân viên NH trong phong cách phục vụ và thao tác nghiệp vụ mà còn phải để KH hiểu rõ tính phức tạp của dịch vụ NH để sẵn sàng phối hợp với nhân viên NH hoàn tất các quá trình cung ứng sử dụng dịch vụ. • Dịch vụ NH là những sản phẩm không lưu trữ được Dịch vụ của NHTM mang tính vô hình do vậy chúng không thể lưu trữ được.
Trong khi đó nhu cầu dịch vụ thường dao động lớn, có thời điểm tăng đột biến song các NH cũng không thể sản xuất sẵn rồi đem đi cất trữ. Ví dụ, dịch vụ thanh toán và chuyển tiền tại thời điểm cuối năm tại các NHTM là rất lớn và các NH phải tăng cường phương tiện cũng như nguồn nhân lực để đảm bảo thực hiện các giao dịch hiệu quả nhất vào thời điểm đó. Chính vì vậy chi phí DVNH tương đối cao. • Dịch vụ NH dễ bị sao chép Nếu một NH vừa đưa ra một loại hình dịch vụ nào đó có hiệu quả thì ngay lập tức các NH khác có thể sao chép và tung ra một sản phẩm dịch vụ tương tự nếu họ muốn.
• Dịch vụ NH mang tính hỗ trợ cao, có mối liên hệ chặt chẽ Các DVNH có mối liên hệ chặt chẽ với nhau. Sự ra đời và phát triển của dịch vụ này là cơ sở của sự ra đời và phát triển dịch vụ khác và ngược lại. Ví dụ, NH không thể phát triển dịch vụ tín dụng mà không đẩy mạnh dịch vụ thanh toán, phát triển dịch vụ thanh toán không thể không phát triển dịch vụ mua bán ngoại tệ, không thể phát triển dịch vụ phát hành thẻ tín dụng mà không mở rộng hình thức cho vay. Mối quan hệ chặt chẽ giữa các dịch vụ này đã tạo ra sự hỗ trợ trong sự phát triển của DVNH.
• Dịch vụ NH mang lại thu nhập cho NH thông qua phí dịch vụ Một trong những nguồn thu của NH là phí dịch vụ. Có những dịch vụ làm 9 tăng tu nhập của NH một cách trực tiếp như: Lãi cho vay, phí mua bán ngoại tệ, phí chuyển tiền, phí mở và thanh toán L/C. Tuy nhiên, có những mà NH không thu từ KH mà chỉ thông qua những dịch vụ đó để lôi kéo KH, tăng sức cạnh tranh với các NH khác hoặc thông qua các dịch vụ đo làm tăng thu nhập từ các dịch vụ khác. Nắm được các đặc điểm trên của dịch vụ, NH có thể khai thác, đa dạng hóa dịch vụ, từ đó thỏa mãn nhu cầu của KH, nâng cao khả năng cạnh tranh của mình trên thị trường trong nước và quốc tế.
Phân loại dịch vụ của Ngân hàng thương mại • Căn cứ theo tính chất dịch vụ C Dịch vụ tín dụng NH Quan hệ tín dụng thể hiện sự vay mượn, là sự chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị tài sản từ người sở hữu sang người sử dụng trong một khoảng thời gian nhất định trên cơ sở tín nhiệm (tin tưởng) người sử dụng tài sản hiệu quả để có khả năng hoàn trả một lượng giá trị lớn hơn giá trị ban đầu. Như vậy, phạm trù tín dụng gắn với chuyển nhượng một lượng tài sản có ba đặc điểm chính là: Tính tạm thời (tính thời hạn), tính hoàn trả với giá trị lớn hơn giá trị ban đầu và tính chất tin tưởng người sử dụng tài sản có khả năng hoàn trả đúng hạn. Ngày nay, khi thừa vốn tạm thời thì ta đầu tư (cho vay) lấy lãi và khi thiếu hụt tạm thời thì đi vay. Điều này làm phát sinh quan hệ tín dụng trực tiếp.
Tuy nhiên, do có nhiều hạn chế trong quan hệ tín dụng trực tiếp, như người dư thừa và thiếu hụt vốn không gặp nhau về mặt không gian, thời gian, khối lượng, loại tiền, lãi suất và đặc biệt là độ tin cậy lẫn nhau, khiến cho tín dụng trực tiếp không thể phát triển được. Để chắp nối nhu cầu đầu tư và nhu cầu đi vay trong nền kinh tê, thì cần thiết phải có một người thứ ba đứng ra huy động toàn bộ nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi, trên cơ sở vốn huy động được cấp tín dụng cho những người có nhu cầu cần vốn tạm thời. Thực hiện chức năng trung gian này chính là các tổ chức tín dụng, mà trong đó chủ yếu là các NHTM. Như vậy NH thực hiện chức năng “luân chuyển vốn” giữa các chủ thể khác trong nền kinh tế.
Khi thực hiện chức năng này, NH giữ vai trò là người đi vay (con nợ) và vai trò là người cho vay (chủ nợ). Đây là quan hệ 10 tín dụng gián tiếp mà người tiết kiệm, thông qua vai trò trung gian của ngân hàng, thực hiện đầu tư vốn vào các chủ thể có nhu cầu về vốn trong nền kinh tế. Từ những phân tích trên có thể định nghĩa: Cấp tín dụng của NH là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác. Trong thực tế, chúng ta thường nhầm lẫn cho rằng hoạt động tín dụng và hoạt động cho vay là một.
Thực ra không phải như vậy, theo định nghĩa trên thì hoạt động tín dụng của NH phong phú và đa dạng hơn nhiều, hay nói cách khác cho vay chỉ một hình thức của tín dụng NH.