CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. DỊCH VỤ KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Khái niệm về dịch vụ khách hàng cá nhân Theo GS Peter S.Rose cho rằng: “ Ngân hàng là một loại hình tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các DV tài chính đa dạng nhất - đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và DVTT và thựchiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ tổ chức KD nào trong nền KT”. Chất lượng dịch vụ được định nghĩa bằng nhiều cách khác nhau tùy thuộc vào đối tượng nghiên cứu và môi trường nghiên cứu.
Chất lượng dịch vụ là mức độ mà một dịch vụ đáp ứng được nhu cầu và sự mong đợi của khách hàng (Lewis & Mitchell, 1990; Asubonteng & ctg, 1996; Wisniewski & Donnelly, 1996). Edvardsson, Thomsson & Ovretveit (1994) cho rằng, chất lượng dịch vụ là dịch vụ đáp ứng được sự mong đợi của khách hàng và làm thỏa mãn nhu cầu của họ. Theo Parasuraman & ctg (1985, 1988), chất lượng dịch vụ là khoảng cách giữa sự mong đợi của khách hàng và nhận thức của họ khi đã sử dụng qua dịch vụ. Trong nền kinh tế hiện nay, nhu cầu về DVNH ngày càng cao, đặc biết nhất là dịch vụ KHCN hay còn gọi là dịch vụ NHBL (NHBL), nên các dịch vụ để phục vụ nhu cầu KHCN như mở TKTT, TGTK, cấp tín dụng,.
Tùy theo từng nhận định và cách tiếp cận, hiện có nhiều quan điểm khác nhau về “dịch vụ KHCN” được công nhận phổ biến như sau: Theo giáo trình Nghiệp vụ NH hiện đại của tác giả TS. Nguyễn Minh Kiều (Nhà xuất bản Thống kê, 2007), “Thị trường bán lẻ dành cho KHCN là 8 một cách nhìn hoàn toàn mới về thị trường tài chính, qua đó, phần đông những người lao động nhỏ lẻ sẽ được tiếp cận với các SPDVNH, tạo ra một thị trường tiềm năng, đa dạng và năng động.” Thuật ngữ NHBL là Retail Banking (tiếng anh) - nghĩa là cung cấp các SPDV đến tận tay người tiêu dùng với số lượng nhỏ. Cần hiểu đúng nghĩa của bán lẻ là hoạt động của phân phối, trong đó là triển khai các hoạt động tìm hiểu, xúc tiến, nghiên cứu, thử nghiệm, phát hiện và phát triển các kênh phân phối hiện đại - mà nổi bật là KD qua mạng”. Theo các chuyên gia kinh tế của Học viện Công nghệ Châu á - AIT tại Báo cáo đánh giá DVNH dành cho KHCN toàn cầu xuất bản tháng 8 năm 2017, “Dịch vụ dành cho KHCN là cung ứng sản phẩm, dịch vụ ngân hàng tới từng cá nhân riêng lẻ, các doanh nghiệp vừa và nhỏ thông qua mạng lưới chi nhánh, khách hàng có thể tiếp cận trực tiếp với sản phẩm và dịch vụ ngân hàng thông qua các phương tiện điện tử viễn thông và công nghệ thong tin.” Theo tổ chức thương mại thế giới WTO về khái niệm tổng quan dịch vụ NHTM năm 2016 thì “Dịch vụ KHCN là loại hình dịch vụ điển hình của ngân hàng, nơi mà các KHCN có thể đến giao dịch tại các Chi nhánh/phòng giao dịch của các ngân hàng để thực hiện các dịch vụ như: tiền gửi tiết kiệm, kiểm tra TK, thế chấp, vay vốn, dịch vụ thẻ tín dụng, thẻ ghi nợ và các dịch vụ khác đi kèm.
” Tóm lại, dịch vụ KHCN có thể hiểu một cách đầy đủ như sau: “ Dịch vụ KHCN là dịch vụ ngân hàng được cung ứng đến từng cá nhân riêng lẻ, các doanh nghiệp vừa và nhỏ, thông qua mạng lưới chi nhánh hoặc khách hàng có thể tiếp cận trực tiếp với các SPDV ngân hàng thông qua các phương tiện thông tin điện tử viên thông''”. Đặc điểm của dịch vụ khách hàng cá nhân - Thứ nhất, dịch vụ KHCN mang tính vô hình và dựa trên nền tảng công nghệ thông tin hiện đại Đặc điểm này chính là phân biệt với SPDV của các ngành khác trong nền KT quốc dân. DVNH nói chung và dịch vụ KHCN. Bên cạnh đó, một số sản phẩm ngân hàng đòi hỏi trình độ chuyên môn cao và công nghệ thong tin hiện đại nhu tu vấn sản phẩm HĐV, thẻ tín dụng, thẻ thanh toán quốc tế.
- Thứ hai, đối tượng phục vụ và dịch vụ KHCN rất đa dạng và có số lượng lớn, đối tuợng phục vụ: là các cá nhân, hộ gia đình và các doanh nghiệp vừa và nhỏ, số luợng dịch vụ KHCN rất lớn, nhiều thành phần và mục đích nhung giá trị các khoản giao dịch nhỏ. - Thứ ba, tính không ổn định và khó xác định Sản phẩm ngân hàng đuợc cấu thành từ nhiều yếu tố: con nguời, trình độ kỹ thuật công nghệ và khách hàng. Thêm vào đó SPDV ngân hàng còn đuợc thực hiện ở không gian khác nhau với những con nguời khác nhau nên không đồng nhất về thời gian và cách thức thực hiện. Các yếu tố này chi phối đến chất luợng SPDV nhung lại thuờng xuyên biến động tạo ra tính không ổn định và khó xác định về chất luợng SPDV ngân hàng.
- Thứ tư, dịch vụ KHCN đơn giản, dê thực hiện nhưng dê bị bắt chước Mục tiêu của dịch vụ NHBL là KHCN nên các dịch vụ thuờng tập trung vào dịch vụ tiền gửi, thanh toán, vay vốn và DV thẻ. DVNH có đặc tính dễ bị sao chép, nếu 1 NHTM triển khai thành công thì các NHTM khác cũng sẽ nhanh chóng sao chép. - Thứ năm, dịch vụ mang lại thu nhập thông qua thu phí dịch vụ Thu nhập của NH đuợc tăng trực tiếp từ phí dịch vụ: ví dụ phí chuyển tiền, phí bảo lãnh, phí KD ngoại tệ, phí mở L/C. Tuy vậy, cũng có những 10 dịch vụ không đem lại nguồn thu trực tiếp cho ngân hàng nhung thông qua dịch vụ đấy để thúc đẩy dịch vụ khác, hoặc để thu hút khách hàng, hoặc để tăng tính cạnh tranh của ngân hàng với các ngân hàng khác.
Vai trò của dịch vụ khách hàng cá nhân Cùng với sự phát triển nhu vũ bão của công nghệ và xu thế hội nhập quốc tế, ngành kinh tế nói chung và ngành ngân hàng nói riêng không ngừng hoàn thiện, đổi mới và phát triển phục vụ cho nền kinh tế. Do vậy, các nghiệp vụ ngân hàng cổ truyền tỏ ra không còn phù hợp cho một thế giới đang hòa nhập mạnh mẽ nhu hiện nay. Do đó các ngân hàng cần mở rộng lĩnh vực hoạt động, xây dựng mô hình ngân hàng hiện đại với các dịch vụ đa dạng đang là huớng đi chung của tất cả các ngân hàng trên thế giới nói chung và các NHTM Việt Nam nói riêng. Từ yêu cầu của nền kinh tế Ngành ngân hàng là 1 trong các ngành kinh tế mũi nhọn, cung cấp thị truờng những SPDV ngày càng đa dạng để đáp ứng nhu cầu của KH.
Ngày nay với xu thế không sử dụng tiền mặt trên toàn cầu, dịch vụ KHCN nói riêng và dịch vụ NHTM nói chung hoạt động duới sự quản lý chặt chẽ của NHNN. Thêm vào đó dịch vụ KHCN giúp cho quá trình luu thông tiền tệ hiệu quả hơn, chuyển dịch và khai thác vốn, góp phần nâng cao đời sống. Từ yêu cầu của hội nhập kinh tế quốc tế Trong giai đoạn nền kinh tế hội nhập sâu rộng với nền kinh tế thế giới, NHTM Việt Nam đứng truớc nhiều cơ hội phát triển hoạt động kinh doanh tuy nhiên đối mặt với áp lực cạnh tranh không chỉ trong ngành NHTM mà còn với các ngân hàng nuớc ngoài. Để tăng năng lực, bên cạnh việc phát triển SPDV, các NHTM còn đặc biệt chú trọng đến dịch vụ KHCN, ở VN sự phát triển dịch vụ chua đa dạng, còn đi theo lối mòn, chua tạo ra nhiều trải nghiệm 11 cho khách hàng, CLDV còn chưa được quan tâm nên hạn chế khả năng cạnh tranh của các NHTM Việt Nam.
Từ yêu cầu phát triển của ngân hàng thương mại Thứ nhất, tăng thu nhập và mở rộng thương hiệu cho NHTM “Đối với hầu hết các NH, nguồn thu chính là thu từ lãi cho vay. Tuy vậy, hoạt động cho vay thường chứa nhiều rủi ro. Thêm vào đó, hoạt động cho vay ngày càng bị cạnh tranh bởi các NH khác nên nguồn thu của các NH từ tín dụng ngày càng giảm. Do điều kiện KT phát triển, đời sống người dân càng được nâng cao, nhu cầu về DVNH ngày càng lớn.
DVNH cần phải đáp ứng các tiêu chí hàng đầu là nhanh chóng, chính xác, an toàn, đa dạng, tiện lợi. Khi KH lựa chọn NH họ có xu hướng muốn chọn một NH có khả năng đáp ứng tất cả các nhu cầu về DVNH của họ. Vì một lí do nào đó, NH không đáp ứng được nhu cầu KH khi KH yêu cầu, KH sẽ có ấn tượng không tốt về NH và sẽ không trở lại lần sau. Do vậy, đa dạng hóa DVNH và nâng cao chất lượng DVNH để đáp ứng tất cả các nhu cầu của KH là con đường hiệu quả nhất để tăng năng lực cạnh tranh, thu hút KH và tăng thu nhập cho NH” theo tapchinganhang.
gov Thứ hai, phân tán rủi ro tập trung đối với các SPDV KHCN Các loại rủi ro khác nhau thường xảy đến trong ngành NH như: rủi ro tín dụng, rủi ro hối đoái, rủi ro lãi suất, rủi ro thanh khoản. Trong đó, hoạt động tín dụng nhiều rủi ro nhất. Theo giáo trình QTRR NHTM “Mỗi NH khác nhau có mức độ rủi ro khác nhau, các NH cần phải dự đoán, phân tích đánh giá và các phương pháp phòng chống rủi ro. Khi xảy ra rủi ro, các NH có nhiều DV sẽ tỏ rõ ưu thế của mình trong việc phân tán rủi ro.
Nếu hoạt động xảy ra rủi ro, NH sẽ tìm cách phát triển nguồn thu nhập từ các DV khác để bù đắp. Do vậy, rủi ro được phân tán ở mức độ thấp hơn và không gây những ảnh hưởng lớn trong hoạt động KD NH” 12 Thứ ba, nâng cao sức cạnh tranh, vị thế và uy tín của NHTM trên thị trường nhờ việc phát triển SPDV KHCN Ngân hàng cung cấp dịch vụ cho mọi đối tượng khách hàng. Trên thực tế, KHCN ngày càng nhanh nhạy và có sự đnáh giá chính xác đối với các SPDV và trải nghiệm CLDV của mình đối với NHTM. Chính vì thế, khi KHCN cảm thấy hài lòng, họ sẵn sàng lan tỏa, giới thiệu các tiện ích đến với người thân, bạn bè, đối tác, điều này góp phần nâng cao vị thế và sức cạnh tranh của NHTM.
Tuy nhiên để chiếm được cảm tình và sự tin tưởng của KHCN, NHTM cần thường xuyên nỗ lực phát triển SPDV bên cạnh chất lượng dịch vụ để tăng sự trải nghiệm tốt đẹp cho khách hàng. Phân loại dịch vụ khách hàng cá nhân 1.