Chất lượng đào tạo nguồn nhân lực ngành giao thông vận tải ở Việt Nam hiện nay

Khám phá chất lượng đào tạo nguồn nhân lực ngành giao thông vận tải tại Việt Nam qua khảo sát các trường đại học, cao đẳng hiện nay.

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Triết học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2012

143
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỞ ĐẦU

0.1. Lý do chọn đề tài

0.2. Tình hình nghiên cứu

0.3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn

0.4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

0.5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

0.6. Đóng góp của luận văn

0.7. Kết cấu của luận văn

1. CHƯƠNG 1: TẦM QUAN TRỌNG VÀ YÊU CẦU CỦA VIỆC ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC NGÀNH GIAO THÔNG VẬN TẢI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

1.1. Quan niệm về nguồn nhân lực và đào tạo nguồn nhân lực ngành Giao thông vận tải

1.1.1. Quan niệm về nguồn nhân lực

1.1.2. Quan niệm về đào tạo nguồn nhân lực

1.2. Đặc điểm đào tạo nguồn nhân lực trong các trường của ngành Giao thông vận tải ở Việt Nam hiện nay

1.3. Những nhân tố tác động đến quá trình đào tạo nguồn nhân lực của ngành Giao thông vận tải ở Việt Nam hiện nay

1.3.1. Tác động của trình độ phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội đến quá trình đào tạo nguồn nhân lực ngành Giao thông vận tải

1.3.2. Tác động của cơ chế, chính sách của Đảng và Nhà nước đến quá trình đào tạo nguồn nhân lực ngành Giao thông vận tải

1.3.3. Tác động của chất lượng đội ngũ làm công tác quản lý và nội dung, chương trình, phương pháp đào tạo đến quá trình đào tạo nguồn nhân lực ngành Giao thông vận tải

1.4. Vai trò và yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực của ngành Giao thông vận tải ở Việt Nam hiện nay

1.4.1. Vai trò của việc đào tạo nguồn nhân lực trong ngành Giao thông vận tải ở Việt Nam hiện nay

1.4.2. Những yêu cầu trong đào tạo nguồn nhân lực của ngành Giao thông vận tải ở Việt Nam hiện nay

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA TRONG ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC NGÀNH GIAO THÔNG VẬN TẢI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

2.1. Thực trạng đào tạo nguồn nhân lực ngành Giao thông vận tải ở Việt Nam hiện nay

2.2. Thực trạng đội ngũ những người làm công tác đào tạo nguồn nhân lực của ngành Giao thông vận tải ở Việt Nam hiện nay

2.3. Thực trạng nội dung, chương trình và phương pháp đào tạo nguồn nhân lực của ngành Giao thông vận tải ở Việt Nam hiện nay

2.4. Thực trạng nhận thức, học tập, nghiên cứu của sinh viên trong ngành Giao thông vận tải ở Việt Nam hiện nay

2.5. Thực trạng tổ chức bộ máy quản lý và điều kiện vật chất phục vụ công tác đào tạo nguồn nhân lực của ngành Giao thông vận tải ở Việt Nam hiện nay

2.6. Những vấn đề đặt ra trong đào tạo nguồn nhân lực của các trường thuộc ngành Giao thông vận tải ở Việt Nam hiện nay

2.6.1. Sự bất cập giữa yêu cầu của công cuộc đổi mới với năng lực còn hạn chế của đội ngũ làm công tác đào tạo

2.6.2. Sự bất cập giữa yêu cầu cao của công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập kinh tế quốc tế với hạn chế về nội dung, chương trình, phương pháp đào tạo nguồn nhân lực trong các trường của ngành

2.6.3. Sự bất cập giữa yêu cầu của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đòi hỏi phải đào tạo được nhiều nhân lực có trình độ cao với môi trường đào tạo còn nhiều hạn chế

2.6.4. Sự bất cập giữa tính năng động của kinh tế thị trường với sức ỳ của công tác đào tạo nguồn nhân lực trong các trường của ngành Giao thông vận tải ở Việt Nam hiện nay

3. CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC NGÀNH GIAO THÔNG VẬN TẢI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

3.1. Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực ngành Giao thông vận tải ở Việt Nam hiện nay

3.1.1. Phát triển số lượng, nâng cao chất lượng đội ngũ làm công tác đào tạo trong các trường ngành Giao thông vận tải ở Việt Nam hiện nay

3.1.2. Đa dạng hóa chương trình, hình thức đào tạo trong các trường thuộc ngành Giao thông vận tải ở Việt Nam hiện nay

3.1.3. Phát huy tính tích cực học tập, nghiên cứu của sinh viên trong đào tạo nguồn nhân lực ở các trường của ngành Giao thông vận tải ở Việt Nam hiện nay

3.1.4. Đổi mới công tác tổ chức, công tác quản lý trong đào tạo nguồn nhân lực ở các trường của ngành Giao thông vận tải ở Việt Nam hiện nay

3.1.5. Bổ sung, hoàn thiện cơ chế, chính sách, tăng cường cơ sở vật chất và xây dựng các cơ sở đào tạo từ các nguồn đầu tư, tạo môi trường thuận lợi cho công tác đào tạo nguồn nhân lực trong các trường của ngành Giao thông vận tải ở Việt Nam hiện nay

3.1.6. Bộ Giao thông vận tải cần sớm bổ sung và hoàn thiện quy hoạch về phát triển giáo dục-đào tạo để nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực

3.1.7. Ngành Giao thông vận tải cần chủ động, tích cực thực hiện các chủ trương chính sách liên quan đến chất lượng đào tạo nguồn nhân lực

3.1.8. Đối với các Bộ, Ngành có liên quan đến chất lượng đào tạo nguồn nhân lực

3.1.9. Đối với các cơ quan quản lý nhà nước có liên quan tới đào tạo nguồn nhân lực

3.1.10. Nâng cao nhận thức các cấp lãnh đạo trong ngành Giao thông vận tải

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tầm quan trọng của chất lượng đào tạo nguồn nhân lực ngành giao thông vận tải

Chất lượng đào tạo nguồn nhân lực ngành giao thông vận tải ở Việt Nam hiện nay đang trở thành một vấn đề cấp bách. Ngành giao thông vận tải đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế và xã hội của đất nước. Để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thị trường lao động, việc nâng cao chất lượng đào tạo là điều cần thiết. Các trường đại học và cao đẳng cần phải cải thiện chương trình đào tạo, phương pháp giảng dạy và cơ sở vật chất để tạo ra nguồn nhân lực chất lượng cao.

1.1. Định nghĩa nguồn nhân lực trong ngành giao thông vận tải

Nguồn nhân lực trong ngành giao thông vận tải được hiểu là tập hợp những người có trình độ chuyên môn, kỹ năng và kinh nghiệm làm việc trong lĩnh vực này. Đào tạo nguồn nhân lực không chỉ đơn thuần là việc truyền đạt kiến thức mà còn là phát triển kỹ năng thực hành và tư duy sáng tạo cho sinh viên.

1.2. Vai trò của chất lượng đào tạo trong phát triển ngành giao thông vận tải

Chất lượng đào tạo ảnh hưởng trực tiếp đến năng lực làm việc của nguồn nhân lực. Một đội ngũ nhân lực được đào tạo bài bản sẽ góp phần nâng cao hiệu quả công việc, giảm thiểu tai nạn giao thông và cải thiện chất lượng dịch vụ vận tải. Điều này không chỉ mang lại lợi ích cho doanh nghiệp mà còn cho toàn xã hội.

II. Thực trạng đào tạo nguồn nhân lực ngành giao thông vận tải ở Việt Nam

Thực trạng đào tạo nguồn nhân lực ngành giao thông vận tải hiện nay cho thấy nhiều vấn đề cần được giải quyết. Các trường đại học và cao đẳng vẫn còn gặp khó khăn trong việc cập nhật chương trình đào tạo phù hợp với nhu cầu thực tế. Nhiều sinh viên ra trường không đáp ứng được yêu cầu của nhà tuyển dụng, dẫn đến tình trạng thất nghiệp cao trong ngành.

2.1. Đánh giá chất lượng chương trình đào tạo hiện tại

Chương trình đào tạo hiện tại tại các trường đại học và cao đẳng ngành giao thông vận tải thường thiếu tính thực tiễn. Nhiều môn học không còn phù hợp với yêu cầu của thị trường lao động, dẫn đến việc sinh viên không được trang bị đầy đủ kiến thức và kỹ năng cần thiết.

2.2. Thực trạng đội ngũ giảng viên và cơ sở vật chất

Đội ngũ giảng viên trong ngành giao thông vận tải còn thiếu về số lượng và chất lượng. Nhiều giảng viên chưa có kinh nghiệm thực tiễn, điều này ảnh hưởng đến chất lượng giảng dạy. Bên cạnh đó, cơ sở vật chất cũng chưa đáp ứng được yêu cầu đào tạo hiện đại.

III. Những thách thức trong đào tạo nguồn nhân lực ngành giao thông vận tải

Đào tạo nguồn nhân lực ngành giao thông vận tải đang đối mặt với nhiều thách thức. Sự phát triển nhanh chóng của công nghệ và yêu cầu ngày càng cao từ thị trường lao động đặt ra áp lực lớn cho các cơ sở đào tạo. Việc không kịp thời cập nhật chương trình đào tạo sẽ dẫn đến tình trạng lạc hậu và không đáp ứng được nhu cầu thực tế.

3.1. Sự thay đổi nhanh chóng của công nghệ

Công nghệ trong ngành giao thông vận tải đang phát triển với tốc độ nhanh chóng. Các trường cần phải thường xuyên cập nhật công nghệ mới vào chương trình đào tạo để sinh viên có thể làm việc hiệu quả trong môi trường hiện đại.

3.2. Nhu cầu ngày càng cao từ thị trường lao động

Thị trường lao động hiện nay yêu cầu nguồn nhân lực không chỉ có kiến thức chuyên môn mà còn phải có kỹ năng mềm và khả năng làm việc nhóm. Điều này đặt ra thách thức lớn cho các trường trong việc thiết kế chương trình đào tạo.

IV. Giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực ngành giao thông vận tải

Để nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực ngành giao thông vận tải, cần có những giải pháp đồng bộ và hiệu quả. Các trường cần cải tiến chương trình đào tạo, tăng cường hợp tác với doanh nghiệp và đầu tư vào cơ sở vật chất.

4.1. Cải tiến chương trình đào tạo

Chương trình đào tạo cần được thiết kế lại để phù hợp với nhu cầu thực tế của thị trường lao động. Cần tích hợp các môn học thực hành và kỹ năng mềm vào chương trình giảng dạy.

4.2. Tăng cường hợp tác với doanh nghiệp

Hợp tác với doanh nghiệp sẽ giúp sinh viên có cơ hội thực tập và làm việc thực tế, từ đó nâng cao kỹ năng và kinh nghiệm làm việc. Các trường cần xây dựng mối quan hệ chặt chẽ với các doanh nghiệp trong ngành.

V. Kết luận và hướng phát triển tương lai

Chất lượng đào tạo nguồn nhân lực ngành giao thông vận tải ở Việt Nam cần được nâng cao để đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước. Việc cải thiện chất lượng đào tạo không chỉ giúp sinh viên có việc làm mà còn góp phần vào sự phát triển bền vững của ngành giao thông vận tải.

5.1. Tầm nhìn tương lai cho ngành giao thông vận tải

Ngành giao thông vận tải cần có một tầm nhìn rõ ràng về phát triển nguồn nhân lực trong tương lai. Cần xây dựng chiến lược dài hạn để nâng cao chất lượng đào tạo và đáp ứng nhu cầu của thị trường.

5.2. Đề xuất chính sách hỗ trợ từ Nhà nước

Nhà nước cần có những chính sách hỗ trợ cho các trường trong việc nâng cao chất lượng đào tạo, bao gồm việc đầu tư vào cơ sở vật chất, đào tạo giảng viên và phát triển chương trình đào tạo.

22/07/2025
Luận văn thạc sĩ ussh chất lượng đào tạo nguồn nhân lực ngành giao thông vận tải ở việt nam hiện nay qua khảo sát một số trường đại học cao đẳng ngành giao thông vận tải

Trích đoạn nội dung tài liệu

mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương, 7 tiết. Chƣơng 1: Tầ m quan tro ̣ng và yêu cầ u của viê ̣c đào ta ̣o nguồ n nhân lực. Chƣơng 2: Thực tra ̣ng và những vấ n đề đă ̣t ra trong đào ta ̣o nguồ n nhân lực. Chƣơng 3: Giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao chấ t lươ ̣ng đào ta ̣o nguồ n nhân lực.

8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 TẦM QUAN TRỌNG VÀ YÊU CẦU CỦA VIỆC ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC NGÀNH GIAO THÔNG VẬN TẢI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 1. Quan niệm về nguồn nhân lực và đào tạo nguồn nhân lực ngành Giao thông vận tải 1. Quan niệm về nguồn nhân lực Nguồn nhân lực là khái niệm đồng nghĩa với khái niệm nguồn lực con người, đây là khái niệm có nội dung đa dạng, được đề cập dưới nhiều góc độ khác nhau. Trong lý luận về lực lượng sản xuất, con người được coi là yếu tố quan trọng hàng đầu, là yếu tố quan trọng nhất, quyết định sự vận động và phát triển của lực lượng sản xuất, quyết định quá trình sản xuất và do đó, quyết định năng xuất lao động và tiến bộ xã hội.

Con người còn có mặt trong quan hệ sản xuất trên cả 3 bình diện: quan hệ sở hữu tư liệu sản xuất, quan hệ quản lý và quan hệ phân phối. Nguồn lực con người cũng đồng thời là nguồn nhân lực. Nguồn nhân lực là nguồn lực của mọi nguồn lực, là nội lực của sự phát triển của tất cả các quốc gia. Đó là nguồn lực có trí tuệ, có khả năng phục hồi và tự tái sinh, tự phát triển; đồng thời nguồn nhân lực vừa là chủ thể vừa là khách thể của quá trình phát triển kinh tế - xã hội.

Mỗi một lĩnh vực, một ngành nghề nhất định lại có nguồn nhân lực riêng của mình với những yêu cầu, đặc điểm riêng nhất định. Tính chất, đặc điểm, vai trò của nguồn nhân lực trong từng lĩnh vực cụ thể có những đặc thù riêng, đồng thời lại mang những tính chất, vai trò, đặc điểm chung của nguồn nhân lực. Nguồn nhân lực là nguồn lực về con người và được nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau. Trong luận văn này, tác giả nghiên cứu nguồn nhân lực với tư cách là lực lượng lao động.

Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đã đưa ra quan niệm: nguồn nhân lực là tiềm năng về lao động trong một thời 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com kỳ xác định của một quốc gia, bao hàm trong đó nguồn nhân lực ở một địa phương, một ngành hay một vùng xác định. Đây là nguồn lực quan trọng nhất của sự phát triển kinh tế - xã hội. Quan niệm này cần được diễn đạt cụ thể thêm trên các nội dung: thứ nhất, nguồn nhân lực với tư cách là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội, bao gồm toàn bộ dân cư có cơ thể phát triển bình thường, có khả năng lao động; thứ hai, nguồn nhân lực là nguồn lực với tư cách là yếu tố của sự phát triển kinh tế - xã hội, là khả năng lao động của xã hội được hiểu theo nghĩa hẹp hơn, bao gồm nhóm dân cư trong độ tuổi lao động có khả năng lao động, có khả năng tham gia vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội. Với cách hiểu này, nguồn nhân lực tương đương với nguồn lao động; thứ ba, nguồn nhân lực có thể hiểu đó là tổng hợp các cá nhân những con người cụ thể tham gia vào quá trình lao động, là tổng thể các yếu tố về thể chất và tinh thần của các cá nhân được huy động vào quá trình lao động, phát triển kinh tế - xã hội.

Đó là cách xem xét một cách toàn diện về nguồn nhân lực. Cần quan niệm nguồn nhân lực trên quan điểm toàn diện và khoa học. Bộ Luật Lao động của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định: những người trong độ tuổi từ đủ 15 đến 60 tuổi đối với nam và từ đủ 16 đến 55 tuổi đối với nữ, đều thuộc vào nguồn nhân lực trong độ tuổi lao động. Những người trong độ tuổi lao động nhưng không có khả năng lao động, do điều kiện sức khoẻ, bệnh tật, sinh lý… thì không nằm trong khái niệm nguồn nhân lực mà chúng ta nghiên cứu.

Như vậy, nguồn nhân lực cần phải được xem xét, đánh giá trên ba bình diện: số lượng (số dân); chất lượng con người, bao gồm cả thể chất và tinh thần, sức khỏe và trí tuệ, năng lực và phẩm chất; và cơ cấu nguồn nhân lực. Con người là một thực thể tự nhiên và xã hội, không chỉ sống trong môi trường tự nhiên mà còn sống trong môi trường xã hội. Theo quan điểm triết học Mác-Lênin, hoạt động của con người chủ yếu là hoạt động sản xuất, hoạt 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com động cải tạo tự nhiên, cải tạo xã hội và thông qua những hoạt động này con người cải tạo chính bản thân mình. Con người, bằng hoạt động lao động, đã làm biến đổi tự nhiên, sáng tạo ra lịch sử - xã hội đồng thời làm biến đổi chính mình.

Các yếu tố tự nhiên và xã hội trong mỗi con người gắn bó chặt chẽ và khăng khít với nhau, nhưng bản chất con người là một bản chất xã hội, là tổng hoà tất cả các quan hệ xã hội như Mác đã khẳng định. Chính hoạt động lao động và hoạt động thực tiễn nói chung đã làm biến đổi tâm lý của con người, làm cho con người mang tính người, tính xã hội và cũng chính hoạt động thực tiễn đó đã làm cho nhu cầu sinh vật ở con người mang tính người là nhu cầu có tính xã hội. Yếu tố tâm lý trong mỗi con người không phải tồn tại bên cạnh yếu tố xã hội mà chúng hòa quyện vào nhau, tác động lẫn nhau. Bản tính tự nhiên của con người được chuyển vào bản tính xã hội của con người và được cải biến đi trong quá trình hoạt động thực tiễn.

Con người tuy là một sinh vật, một động vật nhưng có suy nghĩ, có ý thức khác với động vật bị bản năng thống trị. Nhân tố con người, đặc biệt là sức lao động, là yếu tố quan trọng của lực lượng sản xuất, đặc trưng cho khả năng phát triển không ngừng của nền sản xuất xã hội. Người ta thường quan niệm nhân tố sức lao động là một phạm trù tổng hợp bao gồm các thành tố: thể lực, tâm lực (đạo đức) và trí lực. Thể lực của con người chịu ảnh hưởng của mức sống vật chất, sự chăm sóc sức khỏe, y tế và sự rèn luyện của từng con người cụ thể.

Thể lực có ý nghĩa quan trọng quyết định năng lực hoạt động của con người. Phải có thể lực con người mới có thể phát triển trí tuệ và các quan hệ của mình trong xã hội. Tâm lực được quan niệm là phẩm chất đạo đức, nhân cách. Trí lực được xác định bởi tri thức chung về khoa học (khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật và khoa học xã hội), trình độ kiến thức chuyên môn, kinh nghiệm làm việc và kỹ năng tư duy xét đoán sự vật, hiện tượng của mỗi người.

Nhờ trí tuệ, con người đã khai thác, chế ngự thiên nhiên và sử dụng nó để bảo tồn và phát triển xã hội 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com của mình. Trí lực của con người được phát triển thông qua giáo dục, đào tạo và hoạt động lao động sản xuất, hoạt động thực tiễn của bản thân con người. Nhân tố sức lao động với tư cách là nhân lực, là nguồn nhân lực xét trên các bình diện của cấu trúc cá thể, cá nhân không chỉ biểu hiện ở thể lực, trí lực mà còn là tâm lực. Đó là phẩm chất đạo đức, nhân cách, là giá trị gốc của con người đã trưởng thành.

Như vậy, nguồn nhân lực xã hội là tổng hoà các sức mạnh và các giá trị của các nguồn nhân lực cá thể hợp thành. Từ cách tiếp cận trên, nguồn nhân lực có thể được hiểu là: Nguồn nhân lực là dạng đặc biệt của nguồn lực nói chung, là tổng thể các yếu tố tạo nên sức mạnh của con người và cộng đồng xã hội; là tổng thể số lượng dân, chất lượng con người và cơ cấu số dân với tất cả sức mạnh và khả năng của nó có thể huy động vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội. Như vậy, nguồn nhân lực là tổng thể các yếu tố tạo nên sức mạnh của con người và cộng đồng xã hội; là tổng thể số lượng dân, chất lượng con người và cơ cấu số dân. Chúng ta, cần phân tích trên các yếu tố chính hợp thành như sau: Thứ nhất, yếu tố số lượng.

Số lượng là yếu quan trọng đầu tiên của nguồn nhân lực. Không có số lượng đến mức cần thiết thì không thể phát huy được sức mạnh của nguồn nhân lực. Số lượng là “cốt vật chất” của nguồn nhân lực. Số lượng nguồn nhân lực được xác định dựa trên quy mô dân số, cơ cấu tuổi, giới tính và sự phân bố dân cư theo khu vực và vùng lãnh thổ của dân số.

Thứ hai, yếu tố chất lượng. Chất lượng nguồn nhân lực là một yếu tố có nội dung rộng lớn, nói lên trình độ toàn diện của nguồn nhân lực, được thể hiện thông qua một số chỉ tiêu chủ yếu: Chỉ tiêu về tình trạng sức khỏe của con người, đó là trạng thái thoải mái về thể chất và tinh thần của con người. Các chỉ tiêu cơ bản phản ánh sức khỏe 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com là thể lực (chiều cao, cân nặng), bệnh tật, tuổi thọ. Sức khỏe là nhân tố tác động trực tiếp đến cả số lượng và chất lượng nguồn nhân lực.

Người lao động có sức khỏe tốt, có thể mang lại lợi ích kinh tế - xã hội nhiều hơn nhờ việc huy động sức mạnh, sự bền bỉ, dẻo dai và tập trung trí tuệ cao trong khi thực hiện công việc; nếu sức khoẻ không tốt, thì đó là chất lượng nguồn lực thấp, không đáp ứng được yêu cầu phát triển của kinh tế - xã hội. Chỉ tiêu về trình độ học vấn và trình độ chuyên môn nghiệp vụ, chuyên môn kỹ thuật của người lao động là chỉ tiêu quan trọng về chất lượng nguồn nhân lực. Trình độ học vấn được biểu hiện bằng tỷ lệ biết chữ, sự lĩnh hội các tri thức và kỹ năng theo nhóm tuổi, theo các cấp độ trong hệ thống giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ