ĐẶT VẤN ĐỀ Trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, quân đội Mỹ đã sử dụng nhiều loại chất độc da cam/dioxin một cách rộng răi làm trụi lá cây, diệt cỏ, huỷ diệt môi trường, sinh thái [4],[56]. Theo số liệu của Bộ Quốc phòng Mỹ: Từ năm 1961 đến năm 1971, quân đội Mỹ đã rải xuống miền Nam Việt Nam trên 72 triệu lít chất độc da cam/dioxin, trong đó có 42 triệu lít chất da cam mang độc tố dioxin [18],[40],[42],[49].Số lượng nạn nhân hiện nay trên cả nước là rất lớn: 93% xã/phường của 64 tỉnh/thành phố trong cả nước đều có người bị ảnh hưởngchất độc da cam/dioxin, 1,2% số hộ gia đình trong cả nước có người bị hậu quả của chất độc da cam/dioxin [1],[2]. Cuộc sống của những gia đình có nạn nhân chất độc da cam/dioxin vô cùng khó khăncả về vật chất lẫn tinh thần, những đau khổ chồng chất đau khổ, nhiều gia đình phải hàng giờ, hàng ngày đối mặt với những đứa con dị dạng, dị tật, thiểu năng trí tuệ, họ không còn hy vọng có người con nối nghiệp khoẻ mạnh, những ước mơ giản dị, về những đứa con bình thường như bao đứa trẻ khác cũng khó trở thành hiện thực đối với họ, điều mà lẽ ra họ có như bao gia đình khác. Đối với các nạn nhân chất độc da cam/dioxin bị dị tật, mắc các bệnh hiểm nghèo hoặc không có khả năng tự chăm sóc bản thân, họ luôn phải cần có người chăm sóc, giúp đỡ trong các hoạt động hàng ngày, chăm sóc về mặt thể lực, tinh thần, thời gian chăm sóc kéo dài.
Do vậy, việc chăm sóc nạn nhân thường làm cho người nhà nạn nhânluôn bị căng thẳng và giảm sút chất lượng cuộc sống. Người chăm sóc phải đối mặt với rất nhiều trở ngại vì họ vừa phải chăm sóc nạn nhân vừa phải cân bằng các nhu cầu sinh hoạt bình thường và các mối liên quan khác trong cuộc sống, thậm chí không còn chút thời gian nhỏ nhoi để chăm sóc cho chính bản thân. Họ luôn bị áp lực cao đối với gánh nặng chăm sóc nạn nhân, tổn thương tâm lý và vấn đề sức khỏe 2 khác, họ phải hi sinh nhiều các quan hệxã hội và các cơ hội việc làm. Phát huy truyền thống tương thân tương ái chung tay xoa dịu nỗi đau da cam, cộng đồng cần có những giải pháp nhằm kết nối để họ cùng nhau chia sẻ kinh nghiệm, cùng hỗ trợ nhau để chia sẻ gánh nặng chăm sóc và nâng cao chất lượng cuộc sống.
Các nhà khoa học cần có những nghiên cứu đề xuất các giải pháp chăm sóc sức khỏe tại nhà, đơn giản, có hiệu quả nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống cho nạn nhân và người thân của họ. Trong những năm qua các nhà khoa học đã có nhiều công trình nghiên cứu về nạn nhân chất độc da cam/dioxin, nhưng chủ yếu tập trung nghiên cứu các tổn thương thực thể, các biến đổi sinh hóa, biến đổi gen ở nạn nhân chất độc da cam/dioxin. Chưa có nghiên cứu đánh giá chất lượng cuộc sống của nạn nhân, đặc biệt là đánh giá gánh nặng chăm sóc và chất lượng cuộc sống của người nhà nạn nhân chất độc da cam/dioxin. Đồng Nai là một trong những tỉnh chịu ảnh hưởng nặng nề bởi chất độc da cam/dioxin tại Việt Nam.
Theo hồ sơ lưu trữ (Bộ quốc phòng Mỹ), trong chiến tranh, quân đội Mỹ đã chuyển đến, lưu giữ tại sân bay Biên Hòa hơn 98.000 thùng phuy loại 205 lít chứa chất da cam. Ngoài ra, còn hàng chục ngàn thùng chứa chất xanh, trắng và chất diệt cỏ các loại. Hiện nay lượng dioxin còn tồn dư trong môi trường ở đây còn đang được xử lý.Các gia đình nạn nhân chất độc da cam/dioxin tại Biên Hòa đều có hoàn cảnh khó khăn. Nhiều gia đình có 3 đến 4 người mang trong mình hậu quả khốc liệt do chiến tranh.
Do vậy, cần có những nghiên cứu tiên phong cho khu vực này. Xuất phát từ những vấn đề trên, nghiên cứu tiến hành nhằm mục tiêu: 1. Mô tả thực trạng chất lượng cuộc sống của nạn nhân, người nhà nạn nhân chất độc da cam/dioxin tại thành phố Biên Hòa (2014-2016). Đánh giá hiệu quả giải phápcan thiệp nâng cao chất lượng cuộc sống cho nạn nhân và người nhà nạn nhân chất độc da cam/dioxin tại cộng đồng.
3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN 1. Ảnh hƣởng và hậu quả của dioxin đến sức khỏe con ngƣời Chất độc da cam, một loại chất độc được tạp chí Time của Mỹ liệt vào danh sách ―50 phát minh tồi tệ nhất của loài người‖ [27], Tổ chức Ung thư Quốc tế - IARC cũng xếp dioxin vào nhóm độc loại 1 tức là nhóm gây ung thư dẫn đến tử vong đối với người [8]. Nhiều công trình nghiên cứu ghi nhận dioxin là mối đe dọa cho môi trường, hệ sinh thái, sức khỏe con người, là thách thức của ngành Y tế công cộng [19],[23],[52]. Khi con người tiếp xúc với chất dioxin có hàm lượng cao trong thời gian ngắn có thể dẫn tới các triệu chứng ngoài da [50], tạo ra những vết sẫm màu hoặc có thể rối loạn các chức năng gan.
Có nhiều con đường dioxin có thể xâm nhập vào cơ thể người: qua hít thở không khí, uống nước, ăn các loại thực phẩm động vật khác nhau, da tiếp xúc với đất. Đặc tính của dioxin là chất rất bền vững, ái mỡ, hầu như không tan trong nước, áp suất hơi rất thấp. nên con đường chủ yếu để dioxin xâm nhập vào cơ thể người là thông quathông qua chuỗi thức ăn (tích lũy trong nguồn nước dưới đất, thực vật, thủy sản) [7],[54]. Nếu tiếp xúc lâu dài có thể tác động tới hệ thống miễn dịch, gây rối loạn sự phát triển hệ thần kinh, tuyến nội tiết và cả chức năng sinh sản [57].
Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng chất độc da cam/dioxin gây ra tai biến sinh sản, dị tật bẩm sinh, ung thư và một số bệnh khác [25], [51],[79],[121]. Theo nghiên cứu của Manh HD, Kido T và cộng sự tiến hành cho thấy hầu hết các hợp chất dioxin có nồng độ cao nhất trong khu vực I nơi căn cứ không quân Mỹ đóng quân, nồng độ ở khu vực khác gần căn cứ không quân (khu vực II và III) không cao, điều đó chứng tỏ mức độ phơi nhiễm hiện nay là nguyên nhân gây ra nồng độ dioxin cao [35], hay nói cách khác sự tồn dư 4 của dioxin ở các khu vực căn cứ quân sự vẫn đang là nguồn ô nhiễm đối với người dân. Theo NAS (2003) và Stell (2003), trong số 20.585 làng được ghi nhận trên cơ sở dữ liệu, có 3.181 làng bị phun rải trực tiếp, với số dân trong đó bị phơi nhiễm vào khoảng 2,1 - 4,8 triệu người, 1.430 làng khác cũng bị phun rải nhưng không đánh giá được số dân cư [13]. Với lượng TCDD rất lớn do chiến tranh để lại môi trường miền Nam Việt Nam đã và đang gây hậu quả nghiêm trọng đối với sức khỏe của hàng triệu dân cư.
Hàng triệu nạn nhân chất độc da cam/dioxin với nhiều loại chứng bệnh khác nhau: Ung thư, suy giảm miễn dịch, tai biến sinh sản, dị tật bẩm sinh. Kết quả khảo sát 28.817 gia đình cựu chiến binh nhiễmchất độc da cam/dioxin ở nước ta cho thấy số gia đình có con bị dị tật bẩm sinh là 1.604 gia đình chiếm 5,69%, trong khi đó khảo sát 19.076 gia đình không bị nhiễm chất độc da cam/dioxin thì tỷ lệ gia đình có con bị dị tật bẩm sinh là 356, chiếm 1,87%. Như vậy, số gia đình bị nhiễm chất độc da cam/dioxin có con bị dị tật bẩm sinh gấp hơn 3 lần số gia đình không bị phơi nhiễm. Theo Ngô Thanh Nam và cộng sự (2012) khảo sát nồng độ dioxin trong nhau thai và sữa mẹ ở một số địa phương từ 2007 - 2010 cho thấy: Nồng độ2,3,7,8-TCDD và tổng TEQPCDD/PCDF trong các mẫu nhau thai và sữa mẹ ở các địa phương thuộc vùng bị rải chất độc da cam/dioxin trong chiến tranh đều cao hơn các mẫu lấy tại vùng không bị rải [36].
Kết quả nghiên cứu của Trương Quang Đạt (2013) cho thấy tỷ lệ người mẹ sinh con dị tật bẩm sinh (DTBS) là 4,83%; tỷ lệ con bị DTBS là 1,83% [21]. Tỷ lệ các dạng DTBS theo hệ cơ quan là: Hệ thần kinh 32,89%; hệ cơ - xương 17,28%; Mẹ có học vấn bậc tiểu học, sinh ra trước năm 1972 và sống ở khu vực sân bay Phù Cát là các yếu tố liên quan đến sinh con DTBS. Giả thuyết là do phơi nhiễm chất độc da cam/dioxin trong chiến tranh [20]. Theo 5 Trần Đức Phấn và cộng sự tiến hành nghiên cứu về tình hình sảy thai, thai chết lưu và dị tật bẩm ở Bình Định và Biên Hòa đã kết luận có mối liên quan giữa bất thường thai sản với phơi nhiễm chất độc da cam/dioxintrong chiến tranh (OR:1,75 và 3,19) [39].
Nghiên cứu của Vũ Phương Nhung và cộng sự khi tiến hành giải trình tự gen của các gia đình nạn nhân chất độc da cam/dioxinđã phát hiện được 347.356 đa hình/đột biến khác nhau giữa con và bố, trong đó có 2.173 đa hình/đột biến trên các cùng mang mă. Số điểm đa hình/đột biến giữa con và mẹ là 558.255, trong đó có 3712 đa hình/đột biến nằm trên vùng mang mă. Đã xác định được 88 đột biến điểm dòng tế bào mầm và 23 indel ở cá thể con. Hai đột biến nằm trên gen HTT và TBP có thể có vai trò quan trọng trong quá trình phát sinh bệnh của cá thể là con của nạn nhân [38].
Viện Hàn lâm Khoa học Mỹ phát hiện 9 trong số 11 bệnh đã được công nhận có liên quan chắc chắn hoặc có bằng chứng liên quan với chất độc da cam/dioxin (trừ bệnh rối loạn chuyển hoá porphyrin và bệnh bệnh gai sống chẻ đôi) ở cựu chiến binh Việt Nam có tiền sử phơi nhiễm: Bệnh đái tháo đường chiếm 7,64% (theo kết quả xét nghiệm khi điều tra); Hodgkin Lymphoma 0,20%, Non-Hodgkin Lymphoma 0,49%, Sarcoma 0,19%, ung thư phổi 1,30%; ung thư tiền liệt tuyến 0,57% và rối loạn thần kinh ngoại biên 0,09%. Một số bệnh hiếm gặp như bệnh Cloracne cũng có 2 trường hợp, bệnh Đau tủy xương ác tính 3 trường hợp trong tổng số điều tra (0,01%). Không phát hiện trường hợp nào có rối loạn chuyển hoá porphyrin và bệnh gai sống chẻ đôi [43]. Nghiên cứu của Đỗ Quý Toàn trên 158.019 người đã chứng minh mối liên hệ giữa liều lượng, độ phản ứng trong các xã/phường bị phơi nhiễm với chất độc da cam/dioxin, ở những xã/phường có mức độ phơi nhiễm cao càng có tương quan với tỷ lệ ung thư [53].
6 Kết quả nghiên cứu của J. Weber (2003) về ảnh hưởng của chất độc da cam/dioxin tại Việt Nam cho thấy có khoảng từ 2,1 đến 4,8 triệu người đã bị nhiễm các chất diệt cỏ.