ĐẶT VẤN ĐỀ Tai nạn thƣơng tích (TNTT) hiện đang đe dọa đến sức khỏe ở tất cả các nƣớc trên thế giới, là vấn đề y tế công cộng đƣợc quan tâm chung bởi các chuyên gia y tế và cộng đồng quốc tế, là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây nên tử vong và tàn tật. Theo ƣớc tính của Tổ chức Y tế Thế giới, hàng năm có hơn 5 triệu ngƣời tử vong, chiếm khoảng 9% của tổng số tử vong, 12% của gánh nặng bệnh tật toàn cầu và gần 100 triệu ngƣời tàn tật do tai nạn thƣơng tích [24], [27], [62]. Riêng năm 2019 TNTT đã cƣớp đi mạng sống của 4,4 triệu ngƣời. Trong số đó thƣơng tích không chủ ý đã cƣớp đi sinh mạng của 3,16 triệu ngƣời, bạo lực và thƣơng tích làm chết 1,25 triệu ngƣời, khoảng 1/3 trong số này tử vong do do va chạm giao thông đƣờng bộ [67].
Ở khu vực Châu Á - Thái Bình Dƣơng, hàng năm TNTT cũng gây ra cho khoảng 2,7 triệu ngƣời tử vong, tức hơn 7.000 ngƣời mỗi ngày, chiếm 52% trƣờng hợp tử vong trên toàn thế giới. Nhìn chung, tử vong do tai nạn thƣơng tích ở các nƣớc có thu nhập thấp và trung bình chiếm trên 90%. Báo cáo cho thấy hàng năm ở EU có 40 triệu ngƣời phải điều trị tại bệnh viện sau tai nạn và bạo lực, và khoảng 233.000 ngƣời chết do thƣơng tích. Khu vực Đông Nam Á và Tây Thái Bình Dƣơng là khu vực có số tử vong do TNTT cao nhất [60].
Tại Việt Nam, TNTT cũng là một trong những vấn đề y tế công cộng nổi cộm. Thống kê từ báo cáo tình hình TNTT định kỳ của ngành y tế cho thấy ƣớc tính mỗi ngày có tới 3600 trƣờng hợp mắc và 90 ngƣời tử vong, mỗi năm trung bình cả nƣớc có khoảng 840.000 trƣờng hợp mắc, 38.482 ca tử vong do TNTT, tƣơng đƣơng với tỷ suất tử vong là 46,6/100,000 ngƣời.000 ngƣời tử vong do tai nạn giao thông và khoảng 4.000 trẻ em bị đuối nƣớc [11]. Tỷ lệ tử vong do TNTT đang là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây tử vong ở Việt Nam, qua kết quả điều tra quốc gia về tai nạn thƣơng tích (VMIS) năm 2001 cho thấy tỷ suất TNTT tử vong và không tử vong cao gấp 3 lần so với các bệnh truyền nhiễm, các cuộc khảo sát ở Đà Nẵng 2008 và 2 khảo sát Quốc gia về TNTT 2010 cũng cho thấy nhƣ vậy [30]. Tai nạn thƣơng tích không những gây ra những tổn thƣờng cho nạn nhân mà còn là gánh nặng cho gia đình và xã hội.
Tai nạn có thể xảy ra ở mọi lúc, mọi nơi, mọi lứa tuổi và trong nhiều hoàn cảnh khác nhau (khi tham gia lao động sản xuất, học tập và sinh hoạt.) do vậy tai nạn thƣơng tích hiện đang là vấn đề hết sức cấp thiết của xã hội. Tai nạn thƣơng tích cũng đặt ra một gánh nặng kinh tế lên vai ngƣời bị nạn và hệ thống y tế. Nếu không may bị tai nạn giao thông với thƣơng tích rất nặng, nạn nhân phải làm việc 8,6 tháng mới kiếm đủ tiền chi phí [32]. Theo báo cáo của Trung tâm kiểm soát bệnh tật tỉnh Thái Nguyên, tính trên toàn tỉnh Thái Nguyên từ năm 2018 – 2020, trung bình mỗi năm có khoảng từ 1.000 ngƣời mắc TNTT, trung bình có trên 150 trƣờng hợp tử vong do tai nạn thƣơng tích mỗi năm [41-43].
Trong đó số mắc và chết do tại nạn giao thông chiếm tỷ lệ lớn nhất trong các nguyên nhân. Thành phố Thái Nguyên là trung tâm văn hóa, chính trị, kinh tế của tỉnh với dân cƣ đông đúc, tỷ lệ tai nạn thƣơng tích cao trong toàn tỉnh, và có xu hƣớng gia tăng mỗi năm do điều kiện phát triển của kinh tế xã hội và thực sự là vấn đề đáng quan tâm trong công tác phòng chống tai nạn thƣơng tích tại địa phƣơng. Vậy thực tế tỷ lệ tai nạn thƣơng tích tại thành phố Thái Nguyên ra sao, những yếu tố nào ảnh hƣởng đến tỷ lệ này, để trả lời cho câu hỏi đó chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Thực trạng tai nạn thương tích tại thành phố Thái Nguyên và một số yếu tố liên quan” với các mục tiêu nhƣ sau: 1. Mô tả thực trạng tai nạn thương tích tại Thành phố Thái Nguyên năm 2021.
Phân tích một số yếu tố liên quan đến tai nạn thương tích tại thành phố Thái Nguyên. 3 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Một số khái niệm về tai nạn thƣơng tích Tai nạn thƣơng tích là một vấn đề sức khỏe cộng đồng tại Việt Nam và đã đƣợc ghi nhận trƣớc đây trong cuộc điều tra quốc gia đầu tiên về TNTT (Điều tra liên trƣờng về tai nạn thƣơng tích tại Việt Nam) do trƣờng Đại học Y tế công cộng và các đối tác thuộc mạng lƣới nghiên cứu y tế công cộng thực hiện. Tai nạn: là một sự kiện xảy ra bất ngờ ngoài ý muốn do một tác nhân bên ngoài gây tổn thƣơng/thƣơng tích cho cơ thể về thể chất hay tâm hồn của nạn nhân [2], [71].
Thƣơng tích: Tổn thƣơng thực thể do có sự va đập mạnh hoặc cọ xát, hoặc bị các vật sắc nhọn đâm gây hậu quả cho cơ thể của một ngƣời qua vết bầm tím, bong gân, căng, gãy xƣơng. “Thƣơng tích” thì không phải là tai nạn mà là sự tổn thƣơng của cơ thể ở các mức độ khác nhau gây nên bởi tiếp xúc đột ngột với các nguồn năng lƣợng (có thể là các tác động cơ học, nhiệt, hóa chất, bức xạ ion, chất phóng xạ.) quá ngƣỡng chịu đựng của cơ thể hoặc do cơ thể thiếu các yếu tố cần thiết cho sự sống nhƣ thiếu ôxy, mất nhiệt. Thƣơng tích có thể lý giải đƣợc và có thể phòng tránh đƣợc. Tuy nhiên, khó có thể phân định rõ ràng giữa hai khái niệm tai nạn và thƣơng tích, do vậy hiện nay trong các văn bản, tài liệu của Việt Nam ngƣời ta dùng chung thuật ngữ “Tai nạn thƣơng tích” [2], [3], [71].
Nhƣ vậy tai nạn thƣơng tích đƣợc định nghĩa là "Thƣơng tổn của cơ thể (có chủ định và không có chủ định) gây nên bởi sự phơi nhiễm cấp đối với năng lƣợng mang tính gây tổn thƣơng (cơ học, nhiệt, điện, hoá học .) hay bởi sự thiếu vắng đột ngột của các yếu tố thiết yếu (ví dụ nhƣ thiếu ôxy trong chết đuối, sức nóng gây chấn thƣơng hay do giảm nhiệt)". Trong đó năng lƣợng cơ học là nguyên nhân thƣờng xuyên gây nên tai nạn thƣơng tích. 4 Tai nạn thƣơng tích gây tổn hại sức khoẻ ngƣời bị nạn và làm ngƣời này phải nghỉ việc hoặc nghỉ học, cần chăm sóc y tế, làm hạn chế sinh hoạt bình thƣờng ít nhất một ngày hoặc làm chết ngƣời [2]. - Tử vong do tai nạn: Là những trƣờng hợp tử vong do nguyên nhân TNTT trong vòng 1 tháng sau khi TNTT [2].
- Tai nạn thƣơng tích tại cộng đồng: Là tập hợp tất cả các trƣờng hợp TNTT trong cộng đồng gây ra bởi mọi nguyên nhân và xảy ra ở mọi lứa tuổi. Do đó, TNTT trong cộng đồng có thể đƣợc hiểu là một khái niệm rộng bao hàm nhiều phân loại TNTT khác nhau hiện đang đƣợc sử dụng nhƣ: tai nạn giao thông (TNGT), tai nạn sinh hoạt (TNSH), tai nạn lao động (TNLĐ), TNTT trong trƣờng học [2]. Phân loại tai nạn thƣơng tích 1. Phân loại theo chủ đích TNTT có chủ đích: TNTT xảy ra do sự việc xảy ra một cách cố tình của ngƣời gây ra TNTT hoặc nạn nhân.
Ví dụ: tự tử, bạo lực. TNTT không chủ đích: TNTT xảy ra do sự việc xảy ra một cách vô tình, không có sự chủ ý gây TNTT của các đối tƣợng. Ví dụ: ngã, tai nạn giao thông [37]. Chủ ý không xác định: Là những TNTT xảy ra trong trƣờng hợp khó xác định là do chủ định hay không có chủ ý [2], [71].
Phân loại theo nguyên nhân bao gồm các loại nhƣ sau: - Tai nạn giao thông: là sự va chạm bất ngờ nằm ngoài ý muốn chủ quan của con ngƣời, xảy ra khi các đối tƣợng tham gia giao thông đang hoạt động trên đƣờng giao thông công cộng, đƣờng chuyên dụng hoặc ở địa bàn giao thông cộng cộng nhƣng do chủ quan vi phạm luật lệ giao thông hoặc do gặp phải các tình huống sự cố đột xuất không kịp phanh tránh, gây ra thiệt hại về tính mạng hoặc sức khoẻ [3]. 5 - Tai nạn lao động: là tai nạn gây tổn thƣơng cho bất kỳ bộ phận, chức năng nào của cơ thể hoặc gây tử vong cho ngƣời lao động, xảy ra trong quá trình lao động, gắn liền với việc thực hiện công việc, nhiệm vụ lao động. - Ngã: gồm tất cả các trƣờng hợp ngã không nằm trong lĩnh vực giao thông và lao động. - Đuối nƣớc/ngạt: Trƣờng hợp mắc là bị ngạt do chìm trong chất lỏng nhƣng không tử vong, cần đến chăm sóc y tế hoặc bị biến chứng khác.
Chết đuối là trƣờng hợp tử vong trong 24 giờ do bị chìm trong chất lỏng (nhƣ: nƣớc, xăng, dầu…) - Súc vật cắn, đốt, húc: là trƣờng hợp con ngƣời bị các loại động vật tấn công nhƣ: chó, mèo cắn; trâu, bò húc; rắn, rết cắn hoặc ong đốt, bọ cạp đốt… Động vật cắn có thể gây đau, xây xƣớc da, nhiễm trùng, nhiễm độc và có thể dẫn đến tử vong. - Bỏng: là tổn thƣơng một hoặc nhiều lớp tế bào da khi tiếp xúc chất lỏng nóng, chất rắn nóng, lửa. Các chấn thƣơng da do sự phát xạ tia cực tím hoặc phóng xạ, điện, hóa chất… - Ngộ độc: là những trƣờng hợp hít, ăn hoặc tiêm vào cơ thể các loại độc tố dẫn đến tử vong hoặc ngộ độc cần có sự chăm sóc y tế. - Tự tử: là trƣờng hợp chấn thƣơng, ngộ độc, hoặc ngạt… do chính nạn nhân hành động cố ý tự giết bản thân mình.
Các yếu tố nguy cơ của tự tử nhƣ rối loạn tâm lý (chán nản, suy sụp, rối loạn nhân cách, mắc bệnh tâm thần phân liệt) và mắc một số bệnh nhƣ mắc bệnh ung thƣ, HIV/AIDS. - Bạo lực trong gia đình, xã hội: là hành động sử dụng vũ lực hăm dọa hoặc đánh đập ngƣời, nhóm ngƣời, cộng đồng khác dẫn đến chấn thƣơng, tử vong, tổn thƣơng tinh thần, chậm phát triển. - Khác: là những trƣờng hợp khác ngoài các trƣờng hợp trên nhƣ: sét đánh, sặc bột, hóc xƣơng. Phân loại theo mức độ TNTT đƣợc phân làm các loại sau: - Tử vong do TNTT: TNTT làm cho ngƣời bị nạn tử vong vì thƣơng tích trong vòng 1 tháng kể từ ngày bị nạn.
- TNTT rất nặng: ngƣời bị tai nạn có di chứng hoặc mất chức năng một cơ quan hay một phần cơ thể.