Thực trạng tai nạn thương tích tại thành phố Thái Nguyên và một số yếu tố liên quan

Nghiên cứu thực trạng tai nạn thương tích tại TP. Thái Nguyên, phân tích các nguyên nhân, yếu tố liên quan và cung cấp số liệu thống kê chi tiết.

Chuyên ngành

Y học dự phòng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ y học

2022

89
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Khái niệm và phân loại tai nạn thương tích tại Thái Nguyên

Tai nạn thương tích là những sự cố xảy ra bất ngờ gây ra chấn thương cho cơ thể con người, dẫn đến tử vong hoặc tàn tật. Tại thành phố Thái Nguyên, tai nạn thương tích được phân thành bốn loại chính bao gồm tai nạn giao thông (TNGT), tai nạn lao động (TNLĐ), tai nạn sinh hoạt (TNSH) và tai nạn do súc vật gây ra. Các loại tai nạn thương tích này có tỷ lệ mắc khác nhau tùy theo từng nhóm tuổi, giới tính và điều kiện sống của cộng đồng. Nghiên cứu từ Trường Đại học Y Dược Thái Nguyên năm 2022 cho thấy tai nạn thương tích không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe cá nhân mà còn gây ảnh hưởng đáng kể đến kinh tế gia đình và xã hội.

1.1. Định nghĩa tai nạn thương tích

Tai nạn thương tích được định nghĩa là những chấn thương tâm lý hoặc thể chất xảy ra do các sự cố bất ngờ. Theo WHO, tai nạn thương tích là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong ở những người trẻ tuổi. Tại Thái Nguyên, các trường hợp tai nạn thương tích được ghi nhận và phân loại theo loại, nguyên nhân và mức độ nghiêm trọng để phục vụ công tác phòng chống.

1.2. Phân loại tai nạn thương tích tại Thái Nguyên

Các loại tai nạn thương tích chính tại thành phố Thái Nguyên bao gồm: tai nạn giao thông (do va chạm phương tiện), tai nạn lao động (tại nơi làm việc), tai nạn sinh hoạt (ngã, va chạm trong gia đình) và tai nạn do súc vật (cắn, cào). Mỗi loại có đặc điểm, nguyên nhân và cách phòng chống riêng biệt.

II. Thực trạng tai nạn thương tích tại thành phố Thái Nguyên

Theo kết quả nghiên cứu từ luận văn Thạc sĩ Y học dự phòng năm 2022 của Vũ Thị Bích Phương, thực trạng tai nạn thương tích tại thành phố Thái Nguyên cho thấy tỷ lệ mắc khá cao, ảnh hưởng đến nhiều nhóm dân cư khác nhau. Tai nạn thương tích xảy ra với tần suất đáng quan ngại, đặc biệt ở những nơi công cộng, đường giao thông và môi trường lao động. Các dữ liệu thu thập cho thấy nam giới có tỷ lệ mắc cao hơn nữ giới, và những người trong độ tuổi lao động (15-60 tuổi) chiếm tỷ lệ lớn. Tai nạn thương tích không chỉ gây mất năng suất lao động mà còn tăng gánh nặng y tế cho cộng đồng.

2.1. Tỷ lệ mắc tai nạn thương tích theo giới tính

Nam giới tại thành phố Thái Nguyên có tỷ lệ mắc tai nạn thương tích cao hơn nữ giới khoảng 60-70%. Điều này liên quan đến sự khác biệt trong hành vi rủi ro, tham gia giao thông, lao động nặng nhọc và các hoạt động giải trí. Tai nạn giao thôngtai nạn lao động là hai nguyên nhân chính góp phần vào sự chênh lệch này.

2.2. Tỷ lệ mắc theo độ tuổi và trình độ học vấn

Nhóm tuổi 25-45 năm là những người có tỷ lệ mắc tai nạn thương tích cao nhất do tham gia lao động và giao thông nhiều. Những người có trình độ học vấn thấp có tỷ lệ mắc cao hơn vì ý thức về an toàn còn hạn chế. Qua khảo sát cho thấy tai nạn thương tích có mối liên quan trực tiếp với kiến thức về phòng chống.

III. Nguyên nhân chính gây tai nạn thương tích tại Thái Nguyên

Nguyên nhân tai nạn thương tích tại thành phố Thái Nguyên rất đa dạng, bao gồm cả những yếu tố khách quan và chủ quan. Tai nạn giao thông do vi phạm luật giao thông, sử dụng rượu bia, chạy quá tốc độ và không mang áo phao là nguyên nhân hàng đầu. Tai nạn sinh hoạt chủ yếu do ngã từ độ cao, va chạm trong nhà ở, hoặc sử dụng dụng cụ không an toàn. Tai nạn lao động liên quan đến điều kiện làm việc không an toàn, thiếu trang bị bảo vệ lao động và ý thức an toàn kém. Ngoài ra, tai nạn do súc vật cắn, đặc biệt là chó hoang, cũng là nguyên nhân không thể bỏ qua, gây nguy hiểm bệnh dại.

3.1. Nguyên nhân tai nạn giao thông

Tai nạn giao thông tại Thái Nguyên chủ yếu do vi phạm tốc độ, uống rượu bia khi lái xe, không mang thiết bị bảo vệ (mũ bảo hiểm, áo phao). Tình trạng tàn phá đường xá, thiếu biển báo và hạ tầng giao thông cũng là những yếu tố góp phần. Phương tiện gây tai nạn giao thông đa dạng gồm ô tô, xe máy, và xe đạp.

3.2. Nguyên nhân tai nạn sinh hoạt và lao động

Tai nạn sinh hoạt chủ yếu do ngã, va chạm vật sắc, hoặc bỏng nước nóng trong gia đình. Tai nạn lao động xảy ra do môi trường làm việc không an toàn, thiếu trang bị bảo vệ cá nhân, hoặc vận hành máy móc sai cách. Những người làm công nhân, nông dân và lao động tự do có tỷ lệ mắc cao hơn.

IV. Các yếu tố liên quan và biện pháp phòng chống tai nạn thương tích

Các yếu tố liên quan đến tai nạn thương tích tại Thái Nguyên bao gồm yếu tố xã hội, kinh tế, y tế và môi trường. Ý thức an toàn thấp, điều kiện kinh tế khó khăn, thiếu cơ sở vật chất y tế và môi trường không đảm bảo an toàn là những rào cản chính. Để giảm tỷ lệ tai nạn thương tích, cần có sự phối hợp giữa cơ quan nhà nước, cơ sở y tế, công ty lao động và cộng đồng. Các biện pháp phòng chống cần tập trung vào nâng cao ý thức, cải thiện hạ tầng, tăng cường giáo dục an toàn và thực thi pháp luật.

4.1. Yếu tố xã hội kinh tế ảnh hưởng đến tai nạn thương tích

Điều kiện kinh tế khó khăn khiến người dân không đầu tư vào thiết bị bảo vệ an toàn. Trình độ học vấn thấp dẫn đến thiếu hiểu biết về nguy hiểm của tai nạn thương tích. Tình trạng thất nghiệp, lao động bất ổn định và cuộc sống áp lực tăng khả năng xảy ra tai nạn. Thiếu tiếp cận thông tin an toàn và giáo dục sức khỏe cộng đồng.

4.2. Biện pháp phòng chống tai nạn thương tích

Cần tăng cường giáo dục an toàn cho cộng đồng, đặc biệt là học sinh và người lao động. Cải thiện hạ tầng giao thông, lắp đặt biển báo, đèn tín hiệu và rào chắn an toàn. Tăng cường thực thi pháp luật về an toàn giao thông, lao động. Xây dựng các điểm khám chữa thương tích nhanh chóng và cơ sở y tế sẵn sàng ứng phó.

18/12/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Tai nạn thƣơng tích (TNTT) hiện đang đe dọa đến sức khỏe ở tất cả các nƣớc trên thế giới, là vấn đề y tế công cộng đƣợc quan tâm chung bởi các chuyên gia y tế và cộng đồng quốc tế, là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây nên tử vong và tàn tật. Theo ƣớc tính của Tổ chức Y tế Thế giới, hàng năm có hơn 5 triệu ngƣời tử vong, chiếm khoảng 9% của tổng số tử vong, 12% của gánh nặng bệnh tật toàn cầu và gần 100 triệu ngƣời tàn tật do tai nạn thƣơng tích [24], [27], [62]. Riêng năm 2019 TNTT đã cƣớp đi mạng sống của 4,4 triệu ngƣời. Trong số đó thƣơng tích không chủ ý đã cƣớp đi sinh mạng của 3,16 triệu ngƣời, bạo lực và thƣơng tích làm chết 1,25 triệu ngƣời, khoảng 1/3 trong số này tử vong do do va chạm giao thông đƣờng bộ [67].

Ở khu vực Châu Á - Thái Bình Dƣơng, hàng năm TNTT cũng gây ra cho khoảng 2,7 triệu ngƣời tử vong, tức hơn 7.000 ngƣời mỗi ngày, chiếm 52% trƣờng hợp tử vong trên toàn thế giới. Nhìn chung, tử vong do tai nạn thƣơng tích ở các nƣớc có thu nhập thấp và trung bình chiếm trên 90%. Báo cáo cho thấy hàng năm ở EU có 40 triệu ngƣời phải điều trị tại bệnh viện sau tai nạn và bạo lực, và khoảng 233.000 ngƣời chết do thƣơng tích. Khu vực Đông Nam Á và Tây Thái Bình Dƣơng là khu vực có số tử vong do TNTT cao nhất [60].

Tại Việt Nam, TNTT cũng là một trong những vấn đề y tế công cộng nổi cộm. Thống kê từ báo cáo tình hình TNTT định kỳ của ngành y tế cho thấy ƣớc tính mỗi ngày có tới 3600 trƣờng hợp mắc và 90 ngƣời tử vong, mỗi năm trung bình cả nƣớc có khoảng 840.000 trƣờng hợp mắc, 38.482 ca tử vong do TNTT, tƣơng đƣơng với tỷ suất tử vong là 46,6/100,000 ngƣời.000 ngƣời tử vong do tai nạn giao thông và khoảng 4.000 trẻ em bị đuối nƣớc [11]. Tỷ lệ tử vong do TNTT đang là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây tử vong ở Việt Nam, qua kết quả điều tra quốc gia về tai nạn thƣơng tích (VMIS) năm 2001 cho thấy tỷ suất TNTT tử vong và không tử vong cao gấp 3 lần so với các bệnh truyền nhiễm, các cuộc khảo sát ở Đà Nẵng 2008 và 2 khảo sát Quốc gia về TNTT 2010 cũng cho thấy nhƣ vậy [30]. Tai nạn thƣơng tích không những gây ra những tổn thƣờng cho nạn nhân mà còn là gánh nặng cho gia đình và xã hội.

Tai nạn có thể xảy ra ở mọi lúc, mọi nơi, mọi lứa tuổi và trong nhiều hoàn cảnh khác nhau (khi tham gia lao động sản xuất, học tập và sinh hoạt.) do vậy tai nạn thƣơng tích hiện đang là vấn đề hết sức cấp thiết của xã hội. Tai nạn thƣơng tích cũng đặt ra một gánh nặng kinh tế lên vai ngƣời bị nạn và hệ thống y tế. Nếu không may bị tai nạn giao thông với thƣơng tích rất nặng, nạn nhân phải làm việc 8,6 tháng mới kiếm đủ tiền chi phí [32]. Theo báo cáo của Trung tâm kiểm soát bệnh tật tỉnh Thái Nguyên, tính trên toàn tỉnh Thái Nguyên từ năm 2018 – 2020, trung bình mỗi năm có khoảng từ 1.000 ngƣời mắc TNTT, trung bình có trên 150 trƣờng hợp tử vong do tai nạn thƣơng tích mỗi năm [41-43].

Trong đó số mắc và chết do tại nạn giao thông chiếm tỷ lệ lớn nhất trong các nguyên nhân. Thành phố Thái Nguyên là trung tâm văn hóa, chính trị, kinh tế của tỉnh với dân cƣ đông đúc, tỷ lệ tai nạn thƣơng tích cao trong toàn tỉnh, và có xu hƣớng gia tăng mỗi năm do điều kiện phát triển của kinh tế xã hội và thực sự là vấn đề đáng quan tâm trong công tác phòng chống tai nạn thƣơng tích tại địa phƣơng. Vậy thực tế tỷ lệ tai nạn thƣơng tích tại thành phố Thái Nguyên ra sao, những yếu tố nào ảnh hƣởng đến tỷ lệ này, để trả lời cho câu hỏi đó chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Thực trạng tai nạn thương tích tại thành phố Thái Nguyên và một số yếu tố liên quan” với các mục tiêu nhƣ sau: 1. Mô tả thực trạng tai nạn thương tích tại Thành phố Thái Nguyên năm 2021.

Phân tích một số yếu tố liên quan đến tai nạn thương tích tại thành phố Thái Nguyên. 3 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Một số khái niệm về tai nạn thƣơng tích Tai nạn thƣơng tích là một vấn đề sức khỏe cộng đồng tại Việt Nam và đã đƣợc ghi nhận trƣớc đây trong cuộc điều tra quốc gia đầu tiên về TNTT (Điều tra liên trƣờng về tai nạn thƣơng tích tại Việt Nam) do trƣờng Đại học Y tế công cộng và các đối tác thuộc mạng lƣới nghiên cứu y tế công cộng thực hiện. Tai nạn: là một sự kiện xảy ra bất ngờ ngoài ý muốn do một tác nhân bên ngoài gây tổn thƣơng/thƣơng tích cho cơ thể về thể chất hay tâm hồn của nạn nhân [2], [71].

Thƣơng tích: Tổn thƣơng thực thể do có sự va đập mạnh hoặc cọ xát, hoặc bị các vật sắc nhọn đâm gây hậu quả cho cơ thể của một ngƣời qua vết bầm tím, bong gân, căng, gãy xƣơng. “Thƣơng tích” thì không phải là tai nạn mà là sự tổn thƣơng của cơ thể ở các mức độ khác nhau gây nên bởi tiếp xúc đột ngột với các nguồn năng lƣợng (có thể là các tác động cơ học, nhiệt, hóa chất, bức xạ ion, chất phóng xạ.) quá ngƣỡng chịu đựng của cơ thể hoặc do cơ thể thiếu các yếu tố cần thiết cho sự sống nhƣ thiếu ôxy, mất nhiệt. Thƣơng tích có thể lý giải đƣợc và có thể phòng tránh đƣợc. Tuy nhiên, khó có thể phân định rõ ràng giữa hai khái niệm tai nạn và thƣơng tích, do vậy hiện nay trong các văn bản, tài liệu của Việt Nam ngƣời ta dùng chung thuật ngữ “Tai nạn thƣơng tích” [2], [3], [71].

Nhƣ vậy tai nạn thƣơng tích đƣợc định nghĩa là "Thƣơng tổn của cơ thể (có chủ định và không có chủ định) gây nên bởi sự phơi nhiễm cấp đối với năng lƣợng mang tính gây tổn thƣơng (cơ học, nhiệt, điện, hoá học .) hay bởi sự thiếu vắng đột ngột của các yếu tố thiết yếu (ví dụ nhƣ thiếu ôxy trong chết đuối, sức nóng gây chấn thƣơng hay do giảm nhiệt)". Trong đó năng lƣợng cơ học là nguyên nhân thƣờng xuyên gây nên tai nạn thƣơng tích. 4 Tai nạn thƣơng tích gây tổn hại sức khoẻ ngƣời bị nạn và làm ngƣời này phải nghỉ việc hoặc nghỉ học, cần chăm sóc y tế, làm hạn chế sinh hoạt bình thƣờng ít nhất một ngày hoặc làm chết ngƣời [2]. - Tử vong do tai nạn: Là những trƣờng hợp tử vong do nguyên nhân TNTT trong vòng 1 tháng sau khi TNTT [2].

- Tai nạn thƣơng tích tại cộng đồng: Là tập hợp tất cả các trƣờng hợp TNTT trong cộng đồng gây ra bởi mọi nguyên nhân và xảy ra ở mọi lứa tuổi. Do đó, TNTT trong cộng đồng có thể đƣợc hiểu là một khái niệm rộng bao hàm nhiều phân loại TNTT khác nhau hiện đang đƣợc sử dụng nhƣ: tai nạn giao thông (TNGT), tai nạn sinh hoạt (TNSH), tai nạn lao động (TNLĐ), TNTT trong trƣờng học [2]. Phân loại tai nạn thƣơng tích 1. Phân loại theo chủ đích TNTT có chủ đích: TNTT xảy ra do sự việc xảy ra một cách cố tình của ngƣời gây ra TNTT hoặc nạn nhân.

Ví dụ: tự tử, bạo lực. TNTT không chủ đích: TNTT xảy ra do sự việc xảy ra một cách vô tình, không có sự chủ ý gây TNTT của các đối tƣợng. Ví dụ: ngã, tai nạn giao thông [37]. Chủ ý không xác định: Là những TNTT xảy ra trong trƣờng hợp khó xác định là do chủ định hay không có chủ ý [2], [71].

Phân loại theo nguyên nhân bao gồm các loại nhƣ sau: - Tai nạn giao thông: là sự va chạm bất ngờ nằm ngoài ý muốn chủ quan của con ngƣời, xảy ra khi các đối tƣợng tham gia giao thông đang hoạt động trên đƣờng giao thông công cộng, đƣờng chuyên dụng hoặc ở địa bàn giao thông cộng cộng nhƣng do chủ quan vi phạm luật lệ giao thông hoặc do gặp phải các tình huống sự cố đột xuất không kịp phanh tránh, gây ra thiệt hại về tính mạng hoặc sức khoẻ [3]. 5 - Tai nạn lao động: là tai nạn gây tổn thƣơng cho bất kỳ bộ phận, chức năng nào của cơ thể hoặc gây tử vong cho ngƣời lao động, xảy ra trong quá trình lao động, gắn liền với việc thực hiện công việc, nhiệm vụ lao động. - Ngã: gồm tất cả các trƣờng hợp ngã không nằm trong lĩnh vực giao thông và lao động. - Đuối nƣớc/ngạt: Trƣờng hợp mắc là bị ngạt do chìm trong chất lỏng nhƣng không tử vong, cần đến chăm sóc y tế hoặc bị biến chứng khác.

Chết đuối là trƣờng hợp tử vong trong 24 giờ do bị chìm trong chất lỏng (nhƣ: nƣớc, xăng, dầu…) - Súc vật cắn, đốt, húc: là trƣờng hợp con ngƣời bị các loại động vật tấn công nhƣ: chó, mèo cắn; trâu, bò húc; rắn, rết cắn hoặc ong đốt, bọ cạp đốt… Động vật cắn có thể gây đau, xây xƣớc da, nhiễm trùng, nhiễm độc và có thể dẫn đến tử vong. - Bỏng: là tổn thƣơng một hoặc nhiều lớp tế bào da khi tiếp xúc chất lỏng nóng, chất rắn nóng, lửa. Các chấn thƣơng da do sự phát xạ tia cực tím hoặc phóng xạ, điện, hóa chất… - Ngộ độc: là những trƣờng hợp hít, ăn hoặc tiêm vào cơ thể các loại độc tố dẫn đến tử vong hoặc ngộ độc cần có sự chăm sóc y tế. - Tự tử: là trƣờng hợp chấn thƣơng, ngộ độc, hoặc ngạt… do chính nạn nhân hành động cố ý tự giết bản thân mình.

Các yếu tố nguy cơ của tự tử nhƣ rối loạn tâm lý (chán nản, suy sụp, rối loạn nhân cách, mắc bệnh tâm thần phân liệt) và mắc một số bệnh nhƣ mắc bệnh ung thƣ, HIV/AIDS. - Bạo lực trong gia đình, xã hội: là hành động sử dụng vũ lực hăm dọa hoặc đánh đập ngƣời, nhóm ngƣời, cộng đồng khác dẫn đến chấn thƣơng, tử vong, tổn thƣơng tinh thần, chậm phát triển. - Khác: là những trƣờng hợp khác ngoài các trƣờng hợp trên nhƣ: sét đánh, sặc bột, hóc xƣơng. Phân loại theo mức độ TNTT đƣợc phân làm các loại sau: - Tử vong do TNTT: TNTT làm cho ngƣời bị nạn tử vong vì thƣơng tích trong vòng 1 tháng kể từ ngày bị nạn.

- TNTT rất nặng: ngƣời bị tai nạn có di chứng hoặc mất chức năng một cơ quan hay một phần cơ thể.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ