mở đầu cho cuộc cách mạng công nghiệp. Trong giai đoạn đầu hình thành nước Mỹ, nước Anh là một nước lớn nhất thế giới. Thứ hai là, nước Anh là “công xưởng và nhà buôn của thể giới", do đó tiếng anh nhanh chóng trở thành ngôn ngữ chung, phổ biển trên thé giới. Thứ ba là, người Anh là một dân tộc giàu óc sáng tạo, giàu trí tuệ và có tính tổ chức cao.
Thứ tr là, những nhân vật xuất chúng quyết định đến sự ra đời của quốc gia mới đều thuộc khối liên hiệp Anh. Trong số những những người phương Tây đến Mỹ, đa phần là người Anh, nhưng không chỉ có người Anh nghèo hèn mả còn có cả những người giàu có, chạy trốn khỏi sự đàn áp của Giáo hội Anh, họ là những nhà quý tộc chạy trốn khỏi theo phong trào Thanh giáo. Giới quý tộc Anh nói riêng và những người giảu có phương Tây nói chung rút hầu bao và đầu cơ điền địa trù phú ở Mỹ. Những trang trại bạt ngàn mọc lên và họ trở thành chủ đồn điền.
Những chủ đôn điển này không hề tự tay cằm cuốc “cày xới ra lợi nhuận” mà ngồi mát ăn bát vàng trên mồ hôi xương máu của những người nô lệ. Họ là những người thô dân da đỏ và những người bằn cùng từ tứ xứ trong hành trình di dân đến nước Mỹ và rơi vào cảnh mản trơi chiếu đất. Việc phục dịch chú nô, đảm đương sản xuất của cái vật chất trong trang trại chủ yếu là nô lệ. Chủ nô chỉ làm một việc thu mua, trao đổi nô lệ và ngồi hưởng thành quả sản xuất của họ.
Tại vùng đất mới nảy, họ không bị rằng buộc bởi thể lực phong kiến và các lực lượng siêu nhiên, con người đến đây tự do lao động sản xuất, tự do suy nghĩ và hành động tìm kiếm thành công. Điều nảy tạo điều kiện thuận lợi cho giai cấp tư sản phát triển nhanh chỏng, thúc đẩy sự xác lập phương thức 12 sản xuất tư bản chú nghĩa. Điều tất yếu xảy ra là sự phân hóa giàu nghẻo. trong xã hội ngảy cảng hiện rõ.
Chính điều nảy đã náy sinh những tư tưởng và cách nghĩ trái ngược nhau giữa ông chủ và người lao động làm thuê. Lối sống, cách suy nghĩ và cách tổ chức đời sống xã hội cũng khác nhau. Trong những vùng đi dân, người ta thấy xuất hiện những lối sống được tô chức theo những nguyên tắc chưa hề có ở châu Âu. cộng đồng này đương nhiên được gọi là “dân chủ”, vì ở đây cũng đã có những tầng lớp trên như nhà buôn, chủ tâu, giáo sĩ, địa chủ nhưng những quan hệ đó không quá gay gắt như ở quê cũ châu Âu.
Người ta thấy ở đó tính năng động xã hội khá rõ với việc thừa nhận giá trị cá nhân. Ở những vùng biên giới do những điều kiện sinh hoạt khá khắc khô, thức sâu sắc về bình đảng, kể cả bình đẳng của phụ nữ cũng đã được thừa nhận |4, tr. Nước Mỹ rộng lớn, dân cư ở ạt nhưng không phải là một sự tổn tai 6 hợp. Ngay từ đầu, những người nhập cư quy tụ lại với nhau thành những khu vực riêng.
Họ sông với nhau theo từng dân tộc, hoặc theo một sự tương đồng. nao dé: Vi ly do tôn giáo, người Anh theo đạo Thiên Chúa quây quản xung quanh linh mục để làm thánh lễ: vì lý do tiện lợi, người Mexico ở phía nam Califonia; vì lý do lịch sử, người da đen rất đông ở miễn Nam và các thành phố lớn; vì lý do nghề nghiệp, người Đức ở miền Trung - Tây, người Hà Lan ở Michigan,. Vài tộc người chuyên làm nghề: người Hà lan và người Đức trồng hoa, người Bắc Âu sản xuất sữa, người Pháp và Italia làm thợ gỉ Chính vì vậy, có thể nói nước Mỹ là hình ảnh thu nhỏ của thể giới, những gì tìm thấy ở các nước trên thể giới thì cũng có thể tìm thấy ở Mỹ. Kết quả của những cuộc di dân đến nước Mỹ đã tạo ra khái niệm văn hóa mang tính biểu trưng: “Nồi hầm nhừ” (Melting pot), có nghĩa là rất cá mọi thứ đều được cho vào nỗi để nâu cho nhuằn nhuyễn, hoặc có thể hiểu nó là 13 một nơi mà trong đó những con người, những nên văn hóa và tư tưởng các loại trà trộn với nhau.
Những ai là người Mỹ thì phải hấp thu một cách tất yếu những giá trị văn hóa khác nhau, và sự hấp thụ của họ góp phần hình thành nên phong cách kiểu Mỹ. “Nồi hằm nhừ” là một huyền thoại đối với người Mỹ. Nó khắc sâu vào tâm trí người Mỹ một ước mơ, một hoải vọng. được rũ bỏ quá khứ để khoác lên mình ảnh hảo quang của sự giảu có.
Nghiên cứu về văn minh Hoa Kỷ một học giả đã viết Làn sóng di dân vào Mỹ vừa nhiều vừa liên tục, chỉ nhất thời bị biển loạn vào những thời kỳ khủng hoảng, suy thoái kinh tế ở các nước có di dân, hoặc trái lại, do có sự vẫy gọi của Tân Thể giới. Hệ quả đầu tiên là sự muôn hình, muôn vẻ của các cội nguồn sinh học và văn hóa. Những cuộc hôn nhân giữa những người dân tộc khác nhau đã góp phần rất lớn vào thành công của Melting pot tgười Ariãng, Do Thái, da đen, da vàng trộn lẫn với nhau, dù rằng cho tới gần đây những cuộc hôn nhân ấy hãy còn hiểm. Con cái những cặp vợ chẳng đó tiếp nhận hai dấu ấn văn hóa của bố và mẹ, cộng với dấu ấn của.
môi trường xã hội, nhất là trường học. Tiếng Anh nhanh chóng trở thành sợi dây liên kết bền vững. Sự pha trộn bẩm sinh ấy hẳn là nguồn gốc của tỉnh thần bao dung, trí óc cởi mở, yêu thích những tình thế quá độ. Cũng có thể tìm thấy ở đó nguyên nhân sự Ít quan tâm đến quá khứ, hướng nhiều vào tương lai [62, tr.
Kết quả của những cuộc di dân đến Mỹ cũng đã tạo ra khái niệm mang tính truyền thống của nước Mỹ: “Con người tự lập thân” (selt made man). Bởi vi, trong bối cánh mới, phương trời mới, vùng đất mới, những con người dũng cảm, gan dạ, dám rời bỏ quê cha đất tổ đến một nơi xa lạ phải tự biết đương đầu, vượt qua những thử thách, không dựa dẫm vào ai, để tự mình làm nên mình. Và, với tỉnh thần tự lập thân ấy, những con người Mỹ từ thế hệ thứ. 14 nhất, thứ hai, thứ ba, và nhiều thế hệ sau đã tạo tạo thành truyền thống của nước Mỹ.
Truyền thống ấy là niềm tự hảo của nước Mỹ, khi Mỳ là cường quốc số một thế gi Vị trí tu cường của Mỹ trên bán đỗ thế giới mà ngày nay dang hi hữu không chỉ là kết quả thuận lợi của những cuộc di dân, làm trù phú dân Mỹ mà còn là sự thuận lợi trong quan hệ với các quốc gia khác khi Mỹ phát triển các hình thái kinh tế xã hội một cách đặc thù. Lý luận về hình thái kinh tế - xã hội của chủ nghĩa Mác - Lênin chỉ ra rằng, trong sự phát triển về hình thái kinh tế - xã hội, về cơ bản là đi theo con đường. tuần tự từ thấp đến cao, nhưng tùy theo điều kiện, hoàn cảnh của các quốc gia, dân tộc mã có thể bỏ qua một vài hình thái kinh tế - xã hội để tiến tới một hình thái kinh tế - xã hội cao hơn, vả nước Mỹ lả một nước như vậy. Mỹ chỉ mắt máy trăm năm để nó vượt qua quá trình máy ngàn năm mà các nước châu Âu đã di qua.
Những người khai hoang từ các nước châu Âu đã mang theo chế và quan hệ sản xuất tiên tiến đến nước Mỹ, làm cho nước Mỹ từ xã nguyên thủy, chỉ trải qua một thời khắc thuộc địa ngắn ngủi để rồi tiền lên xã hội turban chú nghĩa. Xét về tính liên tục của các hình thái kinh tế - xã hội, có thể nói rằng. chưa có một quốc gia nào trên thế giới lại có điều kiện thuận lợi như nước. Đây là quốc gia không hề có chế độ chiếm hữu nô lệ, không hẻ có chế độ phong kiến.
Quốc gia này chỉ trải qua một thời kỳ thuộc địa của thực dân Anh vả một cuộc nội chiến hai miền Nam - Bắc ngắn ngủi và hậu quả đề lại không quá nặng nễ. Sau cuộc chiến tranh này, giai cấp tư sản Mỹ giành lấy chính quyền trên toản quốc và bắt đầu bước vào giai đoạn kiến thiết đất nước với động thai đầu tiên là tập trung phát triển khoa học - kỹ thuật. Điều này có tác dụng to lớn trong việc thúc đây sản xuất, lâm cho kinh tế Mỹ ngày cảng trở nên phỏn thịnh. 1S Trên nền tảng một phương thức sản xuất tất yếu đẻ ra một hệ tư tưởng.
mới, trước hết là ý thức hệ của giai cấp tư sản được hình thành và phát triển một cách nhanh chóng. Trong đó, tự do cá nhân luôn là sự lựa chọn trước tiên, đi cùng với nó La sự thừa nhận giá trị cả nhân, ý thức về sự bình đẳng, quyển con người cũng được tôn trọng. Con người ở đây được tự do. sản xuất, buôn bán, kinh doanh tìm kiểm lợi nhuận, tự do theo đuổi thành công.
Những cái gì có lợi, có ích thi làm bằng được. ngược lại cái gì không đem lại lợi ích thì không làm, ngay cả những mối quan hệ xã hội giữa người với người cũng là quan hệ trao đổi mua bán. Quan hệ lợi ích trong xã hội được đây lên đỉnh điểm không còn chỗ cho những quan hệ tình cảm, tình hữu nghị. tất cả đều trở thành quan hệ lợi ích.
Người Mỹ không quan hệ với nhau về mặt tư tưởng. mà quan hệ với nhau về mặt lợi ích. Nếu có quan hệ với nhau về mặt tư tưởng đi chăng nữa thì họ cũng phải xem tư tưởng đó có tạo ra được hiệu quả hay không. Trong các quan hệ giữa các cá nhân với nhau, giữa cá nhân với xã hội và thậm chí là quan hệ tôn giáo đều được xem là quan hệ trao đổi, mua bán.
Sự có lợi hay không cỏ lợi, thành công hay thất bại, có ích hay không có ích, hiệu quả hay không hiệu quả. đều trở thành nguyên tắc sống của con người trong xã hội. Đó là một tiêu chí cho các cá nhân hành động sao cho có hiệu quả nhất, mang lại nhiều thành công nhất cho mình.