Tổng quan luận án
Công trình khoa học mang tên "Thực trạng chăm sóc trẻ em trong gia đình nông thôn ở huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình" do nghiên cứu sinh Lương Thị Thu Trang thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của GS. Nguyễn Hữu Minh, bảo vệ năm 2022 tại Học viện Khoa học Xã hội (Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam), thuộc chuyên ngành Xã hội học (mã số: 9 31 03 01).
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Gia đình là thiết chế xã hội cơ bản, cái nôi đầu tiên thực hiện chức năng nuôi dưỡng, giáo dục và xã hội hóa trẻ em. Trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế, khu vực nông thôn Việt Nam chứng kiến sự chuyển đổi mạnh mẽ về cơ cấu kinh tế - xã hội. Việc điều chỉnh chính sách tài chính, y tế, thị trường hóa các dịch vụ chăm sóc xã hội cùng áp lực mưu sinh khiến quỹ thời gian và điều kiện chăm sóc trẻ em của các bậc cha mẹ nông thôn biến động lớn.
Khoảng trống nghiên cứu được tác giả chỉ rõ: phần lớn các nghiên cứu xã hội học và y tế công cộng trước đây chủ yếu tập trung vào nhóm trẻ 0–5 tuổi (nhấn mạnh chăm sóc thể chất, y tế) hoặc nhóm vị thành niên 12–17 tuổi (nhấn mạnh giáo dục đạo đức, định hướng nghề nghiệp). Nhóm trẻ lứa tuổi 6–11 (tương ứng bậc tiểu học) – giai đoạn chuyển tiếp quan trọng khi trẻ lần đầu tiếp cận môi trường giáo dục phổ thông có hệ thống và cần sự chăm sóc đồng đều ở cả ba mặt thể chất, tinh thần và tri thức – lại ít được tiếp cận một cách chuyên sâu, toàn diện và có hệ thống trong các nghiên cứu gia đình nông thôn.
Mục tiêu, câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu
- Mục tiêu nghiên cứu: Nghiên cứu thực trạng chăm sóc trẻ em trong các gia đình nông thôn huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình nhằm nhận diện các yếu tố tác động, từ đó gợi xuất các khuyến nghị bảo đảm tốt hơn việc chăm sóc trẻ em ở nước ta trong giai đoạn hiện nay.
- Câu hỏi nghiên cứu:
- Câu hỏi 1: Có sự khác nhau nào về vai trò của người cha và người mẹ trong việc chăm sóc trẻ em trong các gia đình nông thôn ở huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình?
- Câu hỏi 2: Các đặc điểm cá nhân của cha mẹ có ảnh hưởng thế nào đến việc chăm sóc trẻ em trong các gia đình nông thôn huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình?
- Câu hỏi 3: Các đặc điểm hộ gia đình và cộng đồng có ảnh hưởng thế nào đến việc chăm sóc trẻ em trong các gia đình nông thôn huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình?
- Câu hỏi 4: Tuổi và giới tính của trẻ có ảnh hưởng thế nào đến việc chăm sóc của cha mẹ đối với trẻ trong các gia đình nông thôn huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình?
- Giả thuyết nghiên cứu:
- Giả thuyết thứ nhất: Các hoạt động chăm sóc trẻ em trong các gia đình nông thôn ở huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình mang dấu ấn của người mẹ đậm nét và rõ ràng hơn so với người cha.
- Giả thuyết thứ hai: Cha mẹ có độ tuổi trẻ hơn, học vấn cao hơn, và làm các công việc gắn với văn phòng quan tâm hơn tới việc chăm sóc và có phương pháp chăm sóc trẻ em trong gia đình phù hợp hơn so với các nhóm cha mẹ với đặc điểm khác.
- Giả thuyết thứ ba: Địa bàn nào có điều kiện kinh tế - xã hội phát triển hơn, gia đình có mức sống tốt hơn thì việc chăm sóc trẻ em trong gia đình tốt hơn.
- Giả thuyết thứ tư: Các hoạt động chăm sóc trẻ em của bậc cha mẹ ở nông thôn huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình vẫn có xu hướng ưu tiên con bé và con trai nhiều hơn.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Thực trạng các bậc cha mẹ chăm sóc trẻ em trong các gia đình có con trong độ tuổi 6–11 ở nông thôn huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình.
- Phạm vi không gian: Khảo sát tại 3 xã đại diện cho 3 mô hình kinh tế - xã hội của huyện Vũ Thư (tỉnh Thái Bình):
- Xã Nguyên Xá: Đại diện cho xã có làng nghề truyền thống (làm nghề gỗ).
- Xã Vũ Tiến: Đại diện cho xã thuần nông nghiệp (mô hình canh tác ruộng – vườn – ao – chuồng).
- Xã Hòa Bình: Đại diện cho xã hỗn hợp, giáp ranh thị trấn Vũ Thư và thành phố Thái Bình.
- Phạm vi thời gian: Thu thập dữ liệu thực tế từ tháng 5/2020 đến tháng 10/2020 (giai đoạn 1 vào tháng 5/2020, điều tra bổ sung vào tháng 10/2020; các phỏng vấn sâu thực hiện từ tháng 9 đến tháng 10/2020).
- Phạm vi nội dung: Tập trung vào 3 chiều cạnh chăm sóc của cha mẹ: (1) Thể chất (dinh dưỡng, y tế); (2) Tinh thần (vui chơi giải trí, đời sống tâm lý tình cảm); (3) Tri thức, đạo đức, lối sống (học tập, giáo dục đạo đức, lối sống và phân công vai trò).
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án đã phân tích hệ thống tài liệu trong và ngoài nước theo ba mảng nội dung chính của khái niệm chăm sóc trẻ em:
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
Chăm sóc thể chất Chăm sóc tinh thần Chăm sóc tri thức,
(Dinh dưỡng & Y tế) (Vui chơi & Tâm lý) đạo đức, lối sống
• Quốc tế: UNICEF (2019), • Quốc tế: CDC Mỹ (2019,2021), • Quốc tế: Teale (1986),
Eckstein (2006), Shen (2009), Wolicki (2021), Keizer (2020) Ann (1993), Caudill (1970)
Joyce (2009), Klaauw (2004) • Trong nước: Vũ Hào Quang • Trong nước: Ngô Thị Ngọc Anh
• Trong nước: Đặng Bích Thủy (2000), Nguyễn Hữu Minh (2008), Nguyễn Hữu Minh
(2016), Đặng Nguyên Anh (2014), Trần Thị Vân Anh (2013), Điều tra GĐVN
(2000), Lê Khanh (2000) (2011) (2006)
Các hướng nghiên cứu quốc tế
- Chăm sóc thể chất: Báo cáo Tình hình trẻ em thế giới của UNICEF (2019) chỉ ra rào cản chi phí và tính sẵn có của thực phẩm lành mạnh đối với người mẹ. Eckstein K. và cộng sự (2006) phân tích nhận thức sai lệch của phụ huynh về tình trạng thừa cân béo phì. Young E. (2004) nhấn mạnh vai trò làm gương của cha mẹ trong bữa ăn gia đình. Shen M. và cộng sự (2009) chỉ ra việc ép buộc ăn rau hoặc dùng đồ ăn làm phần thưởng gây tác dụng ngược. Joyce J. và cộng sự (2009) chứng minh kiểm soát ăn uống quá mức ở bé gái kích thích hành vi thèm ăn. Devereux và cộng sự (1969) so sánh tại Anh và Mỹ, chỉ ra người mẹ kiểm soát dinh dưỡng và kỷ luật trực tiếp nhiều hơn người cha. Điều tra toàn quốc tại Úc (1997) xác định mẹ dành thời gian chăm sóc con gấp 2,5 lần cha. Klaauw và Wang (2004) chứng minh học vấn của mẹ tương quan nghịch với tỷ lệ suy dinh dưỡng và tử vong ở trẻ. Ivo Mozny và Tomas Katrnak (2005) tại Séc cho thấy phụ nữ học vấn cao tìm kiếm được sự chia sẻ việc nhà từ chồng tốt hơn.
- Chăm sóc tinh thần: Westley và Epstein (1969), Wolicki S. và cộng sự (2021) cùng CDC Hoa Kỳ (2019, 2021) khẳng định mối liên hệ mật thiết giữa sức khỏe tinh thần của cha mẹ và con cái. Nghiên cứu của Integrisok (2021) cảnh báo hiện tượng bao bọc quá mức dẫn đến rối loạn lo âu. Hiệp hội Bác sĩ nhi khoa Canada (2017) khuyến nghị xây dựng quan hệ gia đình và kiểm soát việc dùng internet/tivi. Renske Keizer và cộng sự (2020) trên 2.027 gia đình tại Hà Lan chứng minh việc cha mẹ chia sẻ trách nhiệm vui chơi thúc đẩy nhận thức của trẻ.
- Chăm sóc tri thức, đạo đức, lối sống: William Teale (1986), Ann và cộng sự (1993) khẳng định học vấn của mẹ định hình năng lực nhận thức và ngôn ngữ của trẻ. SMC Philippines (2004) phân tích căng thẳng thu nhập ảnh hưởng tiêu cực đến kết quả học tập. William Caudill và Helen Weinstein (1970) so sánh tại Nhật Bản chỉ ra sự khác biệt trong chăm sóc giữa nhóm gia đình kinh doanh tự do và gia đình công chức. Belfield và Levin (2007) nhấn mạnh mô hình liên kết gia đình - nhà trường - cộng đồng.
Các hướng nghiên cứu trong nước
- Chăm sóc thể chất: Đặng Bích Thủy (2016) công bố số liệu tương quan giữa học vấn, nghề nghiệp của cha mẹ và quy mô hộ gia đình với tỷ lệ suy dinh dưỡng (chỉ số BMI) của trẻ em nông thôn và thành thị. Dự án Những cuộc đời trẻ thơ (2010) ghi nhận tỷ lệ thấp còi ở trẻ 8 tuổi vùng nông thôn là 30% so với 17,6% ở đô thị. Đặng Nguyên Anh (2000) chứng minh cấu trúc gia đình mở rộng có lợi thế hơn gia đình hạt nhân trong việc tiêm chủng phòng bệnh cho trẻ. Lê Khanh (2000) chỉ ra tỷ lệ phụ huynh tự để con khỏi bệnh mà không chữa trị kịp thời.
- Chăm sóc tinh thần: Vũ Hào Quang (2000) phân tích sự thiếu thốn về thiết chế vui chơi công cộng và việc trẻ em nông thôn phải lao động phụ giúp gia đình. Nguyễn Hữu Minh (2014) chỉ rõ người mẹ gần gũi về mặt cảm xúc với con hơn người cha, đồng thời phân tích sự khác biệt giữa nông thôn và thành thị trong mức độ nắm bắt khó khăn của trẻ. Trần Thị Vân Anh và cộng sự (2011) chỉ ra mối quan hệ tỷ lệ thuận giữa học vấn, mức sống của cha mẹ với mức độ hiểu biết bạn thân của con.
- Chăm sóc tri thức, đạo đức, lối sống: Nguyễn Hữu Minh (2013), Điều tra gia đình Việt Nam (2006) ghi nhận hơn 80% cha mẹ dành thời gian nhắc nhở con học tập. Ngô Thị Ngọc Anh (2008) phân tích các phương pháp dạy con học tập, việc dùng phần thưởng khuyến khích và sự phân bổ 2–3 giờ mỗi ngày cho giáo dục con tại nông thôn.
Khoảng trống luận án giải quyết
Kế thừa các công trình trên, luận án lấp đầy khoảng trống thực nghiệm bằng cách nghiên cứu tích hợp cả 3 chiều cạnh chăm sóc trên cùng một mẫu khách thể trẻ em lứa tuổi tiểu học (6–11 tuổi) tại địa bàn nông thôn chuyển đổi ở miền Bắc Việt Nam, phân tích chi tiết tác động đa biến từ đặc trưng cá nhân cha mẹ, đặc điểm hộ gia đình và bối cảnh kinh tế - xã hội địa phương.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết và khái niệm
Luận án vận dụng ba lý thuyết và cách tiếp cận xã hội học chủ đạo:
- Lý thuyết cấu trúc - chức năng: Tiếp cận gia đình như một tiểu hệ thống xã hội thực hiện chức năng duy trì nòi giống, chăm sóc và xã hội hóa; phân tích sự phân công lao động theo giới và cơ chế vận hành vai trò của cha và mẹ.
- Lý thuyết xã hội hóa: Xem xét gia đình là môi trường sơ cấp truyền thụ hệ thống giá trị, chuẩn mực văn hóa, tri thức, rèn luyện khuôn mẫu hành vi và định hình nhân cách cho trẻ lứa tuổi 6–11.
- Cách tiếp cận văn hóa: Lý giải sự bảo lưu các chuẩn mực truyền thống (như tư tưởng phụ quyền, định kiến giới) tác động đến ứng xử và phương pháp chăm sóc trẻ trong gia đình nông thôn đương đại.
Các khái niệm cơ bản được thao tác hóa gồm: "Trẻ em" (từ 6 đến 11 tuổi), "Chăm sóc trẻ em trong gia đình", "Chăm sóc thể chất", "Chăm sóc tinh thần", "Chăm sóc trong lĩnh vực tri thức, đạo đức, lối sống".
KHUNG PHÂN TÍCH LUẬN ÁN
Phương pháp nghiên cứu và mẫu khảo sát
Nghiên cứu kết hợp phương pháp định lượng và định tính:
- Phương pháp phân tích tài liệu: Tổng thuật các văn bản chính sách, nghị định, luật pháp về trẻ em và các công trình khoa học liên quan.
- Phương pháp phỏng vấn bảng hỏi (Định lượng):
- Chọn mẫu: Chọn mẫu ngẫu nhiên theo cụm tại 3 xã (Vũ Tiến, Nguyên Xá, Hòa Bình). Tại mỗi xã, chọn ngẫu nhiên 28 cha mẹ cho mỗi khối lớp từ lớp 1 đến lớp 5 trong các buổi họp phụ huynh (loại trừ các trường hợp đi họp thay).
- Dung lượng mẫu: Tổng số phiếu phát ra là 420 (140 bảng hỏi/xã); thu về 418 phiếu; số phiếu hợp lệ đưa vào xử lý là 412 phiếu (tỷ lệ hồi đáp đạt 98%).
- Công cụ xử lý: Nhập liệu và phân tích thống kê mô tả, bảng chéo tương quan, tần số bằng phần mềm SPSS for Windows.
| Phân loại đặc điểm |
Nhóm phân loại |
Số lượng (N = 412) |
Tỷ lệ (%) |
| Địa bàn (Xã) |
Xã Vũ Tiến |
140 |
34,0 |
|
Xã Nguyên Xá |
134 |
32,5 |
|
Xã Hòa Bình |
138 |
33,5 |
| Giới tính người trả lời |
Nam |
137 |
33,3 |
|
Nữ |
275 |
66,7 |
| Độ tuổi |
Dưới 36 tuổi |
136 |
33,0 |
|
Từ 36 đến 40 tuổi |
141 |
34,2 |
|
Từ 41 tuổi trở lên |
135 |
32,8 |
| Tôn giáo |
Không tôn giáo |
184 |
44,7 |
|
Đạo Phật |
116 |
28,2 |
|
Công giáo |
112 |
27,2 |
| Tình trạng hôn nhân |
Đang có vợ/chồng |
391 |
94,9 |
|
Ly hôn |
7 |
1,7 |
|
Góa |
4 |
1,0 |
|
Sống chung như vợ/chồng |
10 |
2,4 |
| Trình độ học vấn |
Từ THCS trở xuống |
173 |
42,0 |
|
Trung học phổ thông |
102 |
24,8 |
|
Trung cấp, cao đẳng |
78 |
18,9 |
|
Đại học, sau đại học |
59 |
14,3 |
| Nghề nghiệp |
Nông dân |
101 |
24,5 |
|
Công nhân |
155 |
37,6 |
|
Cán bộ, công chức, viên chức (CBCCVC) |
75 |
18,2 |
|
Kinh doanh, Lao động tự do (KD, LĐTD) |
81 |
19,7 |
- Phương pháp phỏng vấn sâu (Định tính): Thực hiện tổng cộng 27 cuộc phỏng vấn sâu (mỗi xã 9 cuộc), bao gồm:
- 15 cuộc với đại diện cha mẹ học sinh (5 khối lớp x 3 xã).
- 03 cuộc với ban giám hiệu hoặc giáo viên chủ nhiệm tiểu học.
- 09 cuộc với học sinh thuộc các khối lớp ngẫu nhiên.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu
Chương này tổng thuật chi tiết bối cảnh nghiên cứu quốc tế và trong nước xoay quanh 3 nội dung: chăm sóc thể chất, chăm sóc tinh thần và chăm sóc tri thức, đạo đức, lối sống. Tác giả chỉ ra các khoảng trống lý luận và thực nghiệm: nghiên cứu dinh dưỡng thường thiên về chỉ số y sinh học mà thiếu khía cạnh xã hội học; nghiên cứu chăm sóc tinh thần chưa gắn với sự phát triển phương tiện truyền thông số ở nông thôn; và nghiên cứu giáo dục gia đình thiếu cái nhìn đối sánh giữa vai trò của người cha và người mẹ đối với lứa tuổi 6–11.
Chương 2: Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu
Chương 2 làm rõ hệ thống khái niệm, phân tích quan điểm của Đảng và hệ thống luật pháp, chính sách của Nhà nước Việt Nam về bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em (như Luật Trẻ em 2016, Công ước CRC, các chương trình mục tiêu quốc gia). Trình bày cơ sở vận dụng lý thuyết cấu trúc - chức năng, lý thuyết xã hội hóa và cách tiếp cận văn hóa. Đồng thời, chương này giới thiệu bối cảnh tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện Vũ Thư và 3 xã điểm nghiên cứu, phản ánh sự chuyển dịch cơ cấu lao động từ thuần nông sang công nhân và dịch vụ thương mại.
Chương 3: Chăm sóc về thể chất cho trẻ em trong gia đình nông thôn
Chương 3 tập trung phân tích thực trạng chăm sóc dinh dưỡng, chăm sóc y tế và sự chuẩn bị kiến thức của cha mẹ:
CHĂM SÓC THỂ CHẤT CHO TRẺ
Chăm sóc dinh dưỡng Chăm sóc y tế
• Bồi dưỡng thực phẩm đắt tiền khi ốm (Bảng 4) • Khám định kỳ & nơi khám bệnh
• Tham gia sữa học đường & uống sữa tại nhà (Bảng 5) • Người đưa đi khám chính: Người mẹ (Bảng 9)
• Thời gian chăm sóc hàng ngày của mẹ > cha (Bảng 10) • Tìm kiếm thông tin qua truyền thông đại chúng
- Chăm sóc dinh dưỡng: Đa số cha mẹ đã có ý thức cân đối khẩu phần ăn (tăng cường rau xanh, đạm). Khi con ốm, tỷ lệ bồi dưỡng thêm thực phẩm đắt tiền hoặc sữa ngoại cao hơn rõ rệt ở nhóm gia đình khá giả và cha mẹ có học vấn cao (Bảng 4). Tỷ lệ cho con tham gia chương trình sữa học đường và uống sữa hàng ngày tại nhà chịu sự chi phối mạnh bởi mức sống gia đình và địa bàn cư trú (xã Hòa Bình và Nguyên Xá có tỷ lệ cao hơn Vũ Tiến) (Bảng 5, Biểu đồ 5, 6).
- Chăm sóc y tế: Tỷ lệ trẻ em tham gia bảo hiểm y tế học sinh đạt mức gần như tuyệt đối theo quy định trường học. Tuy nhiên, hoạt động đưa con đi khám sức khỏe định kỳ chủ động chưa trở thành nền nếp phổ biến; việc khám chữa bệnh chủ yếu diễn ra khi trẻ xuất hiện triệu chứng bệnh cụ thể (Biểu đồ 7, 8). Trạm y tế xã và bệnh viện tuyến huyện là lựa chọn phổ biến hàng đầu.
- Phân công vai trò và thời gian: Người mẹ tiếp tục giữ vị trí thực hiện chính các hoạt động chăm sóc sức khỏe thể chất (Bảng 9). Thời gian trung bình người mẹ dành cho việc chuẩn bị bữa ăn, tắm rửa, chăm sóc thể chất cho con cao gấp nhiều lần so với người cha (Bảng 10). Phụ huynh trẻ tuổi và nhóm cán bộ công chức tích cực tìm kiếm kiến thức dinh dưỡng qua internet và truyền thông đại chúng hơn nhóm thuần nông (Biểu đồ 11).
Chương 4: Chăm sóc về tinh thần cho trẻ em trong gia đình nông thôn
Chương 4 khảo sát hoạt động vui chơi giải trí và đời sống tâm lý tình cảm của trẻ:
- Hoạt động vui chơi giải trí: Không gian vui chơi của trẻ em nông thôn vẫn chủ yếu bó hẹp xung quanh khu vực gia đình, ngõ xóm hoặc sân trường. Tần suất cha mẹ đưa con đi các khu vui chơi giải trí bên ngoài còn thấp (Bảng 11), chủ yếu tập trung vào các dịp lễ tết và ở những hộ có điều kiện kinh tế khá. Mức độ cha mẹ nắm bắt địa điểm chơi, loại hình trò chơi của con đạt tỷ lệ tương đối cao (Bảng 12, 13). Trẻ em ít tham gia các hoạt động phong trào thiếu nhi tại địa phương do áp lực học thêm và sự thiếu hụt các mô hình sinh hoạt hấp dẫn (Bảng 14, Hộp 4, 5).
- Quản lý thiết bị điện tử và cùng chơi với con: Sự bùng nổ của điện thoại thông minh, tivi thông minh và internet tại nông thôn đặt ra thách thức lớn. Tỷ lệ cha mẹ biết rõ thời gian sử dụng thiết bị số của con khá cao nhưng mức độ kiểm soát nội dung còn lỏng lẻo (Bảng 15). Thời gian cha mẹ thực sự tham gia chơi trò chơi cùng con còn rất hạn chế (Bảng 16), người cha thường tham gia các trò chơi vận động thể lực, trong khi người mẹ gắn với các hoạt động trong nhà.
- Đời sống tâm lý tình cảm: Người mẹ là chỗ dựa tình cảm chính, là người mà trẻ thường xuyên tâm sự, chia sẻ chuyện trường lớp, bạn bè (Bảng 17). Người cha ít khi là đối tượng được trẻ chủ động tâm sự. Mức độ hiểu biết về bạn thân và sở thích cá nhân của con tỷ lệ thuận với trình độ học vấn của cha mẹ và quy mô gia đình ít con (Bảng 18, 19, Biểu đồ 12).
Chương 5: Chăm sóc trong lĩnh vực tri thức, đạo đức, lối sống cho trẻ em trong gia đình nông thôn
Chương 5 phân tích quá trình giáo dục học tập, rèn luyện nhân cách và phân công quyền lực trong gia đình:
CHĂM SÓC TRI THỨC, ĐẠO ĐỨC, LỐI SỐNG
Hỗ trợ học tập Giáo dục đạo đức, lối sống Phân công & Ra quyết định
• Nhắc nhở con học: >90% • Dạy lễ phép, trung thực, • Mẹ quyết định chính việc
• Kèm con học hàng ngày: tiết kiệm, chia sẻ học và dạy dỗ (Biểu đồ 18)
Mẹ chiếm đa số • Phương pháp: Khuyên bảo, • Quan niệm trách nhiệm:
• Khen thưởng: Tinh thần giải thích kết hợp phạt Cả hai vợ chồng cùng chia
kết hợp vật chất • Tỷ lệ phát vào mông sẻ (Bảng 26)
- Hỗ trợ học tập: Nhắc nhở con học tập là hoạt động phổ biến nhất (trên 90% cha mẹ thực hiện thường xuyên - Bảng 20). Tuy nhiên, thời gian trực tiếp kèm con học bài mỗi ngày chịu tác động lớn từ trình độ học vấn của phụ huynh: nhóm cha mẹ học vấn từ trung cấp, cao đẳng, đại học dành nhiều thời gian và có khả năng hướng dẫn phương pháp tự học tốt hơn nhóm học vấn tiểu học/THCS (Bảng 21, Biểu đồ 13, Hộp 6). Về hình thức khen thưởng khi con đạt điểm cao, phụ huynh kết hợp giữa khen ngợi tinh thần và thưởng tiền/đồ chơi (Biểu đồ 14, Hộp 8). Mức độ tham gia các cuộc họp phụ huynh và hoạt động đồng hành tại trường học được duy trì tốt (Bảng 23).
- Giáo dục đạo đức, lối sống và kỷ luật: Nội dung giáo dục đạo đức tập trung vào tính trung thực, kính trọng người lớn, yêu thương anh chị em và tính tự lập, tiết kiệm trong sinh hoạt (Biểu đồ 15, 16). Về phương pháp xử lý khi trẻ mắc lỗi, phương pháp khuyên bảo, phân tích đúng sai chiếm ưu thế (Biểu đồ 17). Đáng chú ý, số liệu ghi nhận một tỷ lệ đáng kể phụ huynh vẫn cho rằng việc trừng phạt thể chất là cần thiết (Bảng 24), trong đó tỷ lệ sử dụng biện pháp phát vào mông bằng tay để răn dạy con gái ở nhóm mẹ và nhóm có học vấn cao lại xuất hiện ở mức đáng lưu tâm (Bảng 25).
- Quyền quyết định và phân công trách nhiệm: Có sự chuyển biến rõ nét trong quan niệm: đa số cho rằng việc dạy dỗ con cái là trách nhiệm của cả hai vợ chồng (Bảng 26). Tuy nhiên, trên thực tế vận hành hàng ngày, người mẹ vẫn là người trực tiếp đưa ra các quyết định chính liên quan đến việc học tập, sinh hoạt của con và thực hiện phần lớn việc đưa đón con đi học (Biểu đồ 18).
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp mới về mặt khoa học và lý luận
- Kiểm chứng và làm sâu sắc các lý thuyết xã hội học: Luận án vận dụng thành công lý thuyết cấu trúc - chức năng, lý thuyết xã hội hóa và tiếp cận văn hóa để phân tích biến đổi gia đình nông thôn vùng đồng bằng sông Hồng. Luận án làm sáng tỏ cách thức mà bối cảnh kinh tế chuyển đổi (công nghiệp hóa nông thôn, chuyển dịch cơ cấu nghề nghiệp) tái định hình chức năng xã hội hóa của gia đình.
- Làm rõ tính đặc thù của nhóm trẻ 6–11 tuổi: Cung cấp hệ thống chỉ báo định lượng và định tính toàn diện, chứng minh rằng ở lứa tuổi tiểu học, nhu cầu chăm sóc thể chất, tinh thần và tri thức đan xen chặt chẽ, đòi hỏi sự đầu tư đồng bộ từ gia đình chứ không tách rời đơn lẻ.
- Phát hiện mới về thực hành giới trong gia đình nông thôn:
- Người mẹ đã nhận được sự chia sẻ, bàn bạc nhiều hơn từ người cha trong các quyết định nuôi dạy con, thậm chí người mẹ có tiếng nói quyết định vượt trội trong các vấn đề giáo dục cụ thể của con lứa tuổi tiểu học. Tuy nhiên, gánh nặng thực thi các công việc chăm sóc thường nhật vẫn dồn chủ yếu lên vai người mẹ.
- Tồn tại nghịch lý xã hội học về kỷ luật: Nhóm các bà mẹ và phụ huynh có học vấn cao ở nông thôn vẫn duy trì quan điểm chấp nhận một mức độ trừng phạt thể chất nhất định (như phát vào mông) khi răn dạy con cái, đặc biệt với con gái, xuất phát từ kỳ vọng cao về tính chuẩn mực đạo đức.
- Dấu ấn định kiến giới truyền thống vẫn tồn tại đan xen: Mặc dù mức độ chăm sóc tổng thể đã tương đối bình đẳng, nhưng trong một số hoạt động đầu tư dài hạn và ưu tiên nguồn lực cụ thể, xu hướng ưu ái con trai và con nhỏ hơn vẫn còn bộc lộ.
Khuyến nghị và giải pháp đề xuất
- Đối với cấp hoạch định chính sách và chính quyền địa phương: Cần đầu tư quy hoạch và nâng cấp hệ thống thiết chế văn hóa, khu vui chơi giải trí an toàn dành riêng cho trẻ em tại các xã nông thôn; nâng cao chất lượng dịch vụ y tế cơ sở tại các trạm y tế xã để cha mẹ yên tâm khám chữa bệnh ban đầu cho trẻ.
- Đối với các tổ chức đoàn thể (Hội Phụ nữ, Đoàn Thanh niên): Đổi mới nội dung sinh hoạt thiếu nhi, tổ chức các lớp tập huấn kỹ năng làm cha mẹ, kỹ năng giáo dục không bạo lực và kỹ năng đồng hành cùng con trong thời đại số hóa; đẩy mạnh tuyên truyền bình đẳng giới nhằm thu hút người cha tham gia sâu rộng hơn vào công việc chăm sóc con cái.
- Đối với nhà trường và gia đình: Thiết lập kênh thông tin phối hợp đa chiều, thực chất giữa giáo viên chủ nhiệm và phụ huynh; định hướng phương pháp học tập khoa học, tránh gây áp lực thành tích quá mức lên trẻ lứa tuổi 6–11.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Văn bản luận án nêu rõ các giới hạn nghiên cứu sau:
- Về chủ thể chăm sóc: Nghiên cứu chỉ tập trung phân tích sâu vào chủ thể chính là các bậc cha mẹ (cha và mẹ). Mặc dù tại nông thôn, trẻ em còn nhận được sự chăm sóc từ ông bà, anh chị em, họ hàng và mạng lưới cộng đồng làng xóm, nhưng các đối tượng này chưa được khảo sát chuyên sâu, dẫn đến bức tranh chăm sóc trẻ em trong gia đình mở rộng chưa được phản ánh toàn diện.
- Về phạm vi dung lượng mẫu: Khảo sát định lượng được thực hiện trên quy mô 412 phụ huynh tại 3 xã (trong tổng số 29 xã) của huyện Vũ Thư. Do đó, các kết luận và số liệu thống kê chỉ mang tính đại diện cho trường hợp nghiên cứu cụ thể tại địa bàn, không mang tính đại diện cho toàn bộ tỉnh Thái Bình và không cho phép khái quát hóa tuyệt đối cho toàn thể nông thôn Việt Nam.
- Hướng nghiên cứu tiếp theo: Tác giả đề xuất các nghiên cứu tương lai cần mở rộng quy mô mẫu đa vùng miền, khảo sát đa thế hệ (kết hợp lấy ý kiến trực tiếp của ông bà và đo lường trải nghiệm chiều sâu của trẻ em) để đánh giá đầy đủ sự biến đổi của chức năng gia đình nông thôn.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo học thuật có giá trị cho nhiều nhóm đối tượng:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên: Phù hợp tham khảo phương pháp thiết kế công cụ nghiên cứu xã hội học (bảng hỏi định lượng theo cụm lứa tuổi, khung phân tích đa biến), cách vận dụng phối hợp lý thuyết cấu trúc - chức năng và lý thuyết xã hội hóa trong nghiên cứu Xã hội học gia đình, Xã hội học trẻ em và Xã hội học nông thôn.
- Các nhà hoạch định chính sách và cán bộ quản lý Nhà nước: Cung cấp cứ liệu thực nghiệm phục vụ xây dựng các chương trình hành động quốc gia vì trẻ em, chính sách an sinh xã hội, bình đẳng giới và chương trình phát triển nông thôn mới nâng cao.
- Tổ chức xã hội, giáo viên tiểu học và các bậc cha mẹ: Cung cấp kiến thức thực tiễn về tâm lý lứa tuổi 6–11, nhận diện các nguy cơ từ thiết bị điện tử, và gợi mở các phương pháp giáo dục gia đình tích cực, hạn chế sử dụng đòn roi.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án lựa chọn khảo sát tại những địa bàn nào và lý do chọn mẫu là gì?
Luận án khảo sát tại 3 xã thuộc huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình gồm: xã Nguyên Xá (đại diện làng nghề truyền thống làm gỗ), xã Vũ Tiến (đại diện thuần nông nghiệp) và xã Hòa Bình (đại diện xã hỗn hợp ven đô giáp ranh thành phố Thái Bình). Việc lựa chọn 3 địa bàn này nhằm phản ánh đa dạng các mô hình sinh kế và điều kiện kinh tế - xã hội tác động đến đời sống gia đình nông thôn.
2. Quy mô mẫu khảo sát định lượng và định tính được thực hiện cụ thể như thế nào?
Khảo sát định lượng phát ra 420 bảng hỏi cho cha mẹ có con học từ lớp 1 đến lớp 5 tại các buổi họp phụ huynh (mỗi xã 140 phiếu, mỗi khối lớp 28 phiếu), thu về 418 phiếu và chọn được 412 phiếu hợp lệ (tỷ lệ hồi đáp 98%). Khảo sát định tính gồm 27 cuộc phỏng vấn sâu (mỗi xã 9 cuộc, chia đều cho đại diện cha mẹ 5 khối lớp, ban giám hiệu/giáo viên chủ nhiệm và học sinh).
3. Tỷ lệ cơ cấu giới tính và trình độ học vấn của người trả lời trong mẫu khảo sát là bao nhiêu?
Trong 412 người trả lời bảng hỏi, nữ giới chiếm 66,7% (275 người) và nam giới chiếm 33,3% (137 người). Về học vấn, nhóm có trình độ từ THCS trở xuống chiếm 42,0% (173 người); THPT chiếm 24,8% (102 người); trung cấp, cao đẳng chiếm 18,9% (78 người); và đại học, sau đại học chiếm 14,3% (59 người).
4. Kết quả nghiên cứu chỉ ra sự phân công vai trò giữa cha và mẹ trong chăm sóc trẻ em như thế nào?
Người mẹ vẫn là nhân tố thực hiện chính và chịu trách nhiệm trực tiếp trong phần lớn các hoạt động thường nhật: từ chăm sóc dinh dưỡng, nấu nướng, đưa con đi khám bệnh đến kèm con học bài, tâm sự và đưa đón đi học. Người cha đã có sự tham gia trao đổi, chia sẻ việc ra quyết định nhưng thời gian trực tiếp dành cho chăm sóc con vẫn thấp hơn nhiều so với người mẹ.
5. Phát hiện về quan điểm trừng phạt thể chất của cha mẹ đối với con cái có điểm gì đáng chú ý?
Mặc dù phương pháp giáo dục chủ đạo là khuyên bảo và phân tích, số liệu khảo sát vẫn ghi nhận tỷ lệ phụ huynh đồng tình với sự cần thiết phải trừng phạt thể chất (như phát vào mông bằng tay). Đáng chú ý, tỷ lệ này xuất hiện cao hơn ở nhóm người mẹ và nhóm phụ huynh có trình độ học vấn cao khi răn dạy con gái do kỳ vọng cao về tính khuôn phép.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Lương Thị Thu Trang là một công trình nghiên cứu xã hội học thực nghiệm nghiêm túc về thực trạng chăm sóc trẻ em lứa tuổi 6–11 trong gia đình nông thôn huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình. Thông qua việc kết hợp chặt chẽ giữa lý thuyết cấu trúc - chức năng, xã hội hóa với phương pháp điều tra định lượng (N = 412) và phỏng vấn sâu (N = 27), luận án đã phác họa bức tranh toàn diện về 3 chiều cạnh chăm sóc thể chất, tinh thần và tri thức. Kết quả nghiên cứu khẳng định vai trò trụ cột của người mẹ, chỉ ra những biến đổi tích cực trong sự chia sẻ của người cha, đồng thời nhận diện những khoảng trống về thiết chế vui chơi, áp lực thiết bị số và tàn dư định kiến giới tại nông thôn chuyển đổi. Công trình cung cấp hệ thống luận cứ khoa học thực tiễn, đóng góp thiết thực cho công tác hoạch định chính sách an sinh và giáo dục gia đình tại Việt Nam.