Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Ngành chăn nuôi lợn tại Việt Nam giữ vị trí then chốt trong cơ cấu kinh tế nông nghiệp, song đang phải đối mặt với nhiều áp lực lớn về an toàn vệ sinh thực phẩm, kiểm soát tồn dư kháng sinh và chất kích thích sinh trưởng, tình trạng thiếu hụt lao động kỹ thuật, cùng các thách thức xử lý ô nhiễm chất thải, nước thải và khí thải chăn nuôi. Trong các trở ngại kỹ thuật, rủi ro dịch bệnh luôn gây thiệt hại kinh tế nghiêm trọng nhất cho người chăn nuôi. Đối với đàn lợn nái sinh sản—đặc biệt là các giống ngoại nhập hướng nạc—khả năng thích nghi với điều kiện thời tiết nóng ẩm, biến động thất thường trong nước còn nhiều hạn chế, dẫn đến nguy cơ cao mắc các bệnh đường sinh sản trong và sau quá trình đẻ.

Các bệnh nhiễm trùng hậu sản phổ biến như viêm âm đạo, viêm tử cung, viêm vú, sót nhau và bại liệt sau đẻ tác động tiêu cực trực tiếp đến sức khỏe lợn mẹ, làm suy giảm tiết sữa, gây tiêu chảy ở đàn lợn con, kéo dài chu kỳ động dục trở lại hoặc làm mất hoàn toàn khả năng sinh sản. Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Phạm Quang Trường (ngành Thú y, Khoa Chăn nuôi thú y, Trường Đại học Nông Lâm – Đại học Thái Nguyên) được triển khai nhằm giải quyết các yêu cầu thực tiễn này thông qua đề tài: "Chăm sóc nuôi dưỡng lợn nái sinh sản và theo dõi một số bệnh trên nái sinh sản tại công ty Thiên Thuận Tường, thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh".

Mục tiêu và yêu cầu nghiên cứu của đề tài được xác định cụ thể trong văn bản như sau:

Mục tiêu nghiên cứu:

  1. Thực hiện quy trình chăm sóc và nuôi dưỡng đàn lợn nái sinh sản tại trại lợn của Công ty Cổ phần Khai thác khoáng sản Thiên Thuận Tường, tỉnh Quảng Ninh.
  2. Theo dõi các bệnh lý sinh sản xảy ra đối với đàn lợn nái sinh sản nuôi tại cơ sở.

Nhiệm vụ và yêu cầu nghiên cứu:

  1. Đánh giá và nắm bắt được thực trạng tổ chức chăn nuôi tại trại lợn của công ty.
  2. Xác định và nắm bắt tình hình mắc bệnh, đồng thời đánh giá hiệu quả của quy trình phòng bệnh và các phác đồ điều trị bệnh trên đàn lợn nái sinh sản.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Đàn lợn nái sinh sản và đàn lợn con theo mẹ nuôi tại trại.
  • Phạm vi không gian: Trại lợn nái sinh sản thuộc Công ty Cổ phần Khai thác khoáng sản Thiên Thuận Tường, địa chỉ tại khu 1, tổ 2, phường Cửa Ông, thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh (cách Quốc lộ 18 khoảng 1 km).
  • Phạm vi thời gian: Đề tài được thực hiện trong thời gian 6 tháng, từ ngày 12/06/2022 đến ngày 10/12/2022.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận thuộc loại hình nghiên cứu thực nghiệm lâm sàng và khảo sát thực địa tại trang trại chăn nuôi công nghiệp. Cơ sở khoa học của đề tài được xây dựng dựa trên các lý thuyết chuyên ngành chăn nuôi thú y:

  • Cơ sở sinh lý sinh sản: Quy luật thành thục tính dục, chu kỳ động dục (gồm 4 giai đoạn: trước chịu đực, chịu đực, sau chịu đực, yên tĩnh), hiện tượng rụng trứng và sự hình thành thể vàng tiết progesterone dưới sự điều hòa của trục thần kinh - nội tiết qua vùng dưới đồi (tiết FRF kích thích tuyến yên tiết FSH) và buồng trứng (tiết oestrogen), dựa theo các tài liệu của Trần Tiến Dũng và cộng sự (2002), Phạm Hữu Doanh và cộng sự (2003), Trần Văn Phùng và cộng sự (2004).
  • Cơ sở dinh dưỡng: Nhu cầu năng lượng trao đổi, cân đối protein thông qua các axit amin thiết yếu (lysine, methionine, cystine, tryptophan, histidine), vai trò của khoáng đa lượng (Ca, P chiếm 75% tổng lượng khoáng cơ thể) và các vitamin A, D, E, B12 đối với sự phát triển của thai và chất lượng sữa mẹ.
  • Cơ sở bệnh học sinh sản: Căn nguyên vi khuẩn gây bệnh viêm tử cung (gồm Streptococcus, Colibacillus/E. coli, Staphylococcus aureus), viêm vú (Staphylococcus spp, Arcanobacterium pyogenes), nguyên nhân cơ học và dinh dưỡng dẫn đến sót nhau và hội chứng bại liệt sau đẻ, căn cứ theo công bố của Nguyễn Xuân Bình (2000, 2005), Phạm Sỹ Lăng và cộng sự (2002), Nguyễn Văn Thanh và cộng sự (2002, 2016), Nguyễn Hằng (2019) cùng các nghiên cứu quốc tế của Smith B. và cộng sự (1995), Christensen R.V. và cộng sự (2007), Herber L. và cộng sự (2010).

Phương pháp nghiên cứu thực tế được tác giả triển khai bao gồm:

  • Phương pháp theo dõi trực tiếp và thực hành chăn nuôi: Trực tiếp thực hiện các khâu kỹ thuật chăm sóc, lập khẩu phần, cho ăn theo giai đoạn chửa, đỡ đẻ, bấm nanh, cắt đuôi, thiến đực, dắt đực thí tình và thụ tinh nhân tạo dưới sự hướng dẫn của kỹ sư công ty De Heus.
  • Phương pháp chẩn đoán lâm sàng: Khám lâm sàng hàng ngày từng cá thể lợn nái thông qua quan sát trạng thái cơ thể, lông, da, niêm mạc âm hộ, tính chất dịch rỉ viêm (màu sắc, mùi, độ quánh), kiểm tra độ căng cứng và thân nhiệt bầu vú, kiểm tra thân nhiệt bằng nhiệt kế, trạng thái phân và dáng đi.
  • Phương pháp thử nghiệm phác đồ điều trị: Can thiệp điều trị các ca bệnh thực tế bằng các hóa dược chuyên dụng (cồn iodin thụt rửa, kháng sinh Amoxicillin, kích dục tố co bóp cơ tử cung Oxytocin, thuốc hạ sốt Ketoprofen, dung dịch bổ sung khoáng Canlphon@forte).
  • Nguồn dữ liệu: Số liệu ghi chép nhật ký theo dõi cá thể hàng ngày của tác giả tại chuồng và sổ sách thống kê kỹ thuật lưu trữ của công ty De Heus tại trang trại giai đoạn 2020 - 2022.
  • Phương pháp xử lý số liệu: Dữ liệu thu thập được tính toán theo các công thức thống kê thú y tiêu chuẩn:
    • Tỷ lệ mắc bệnh (%) = (Tổng số con mắc bệnh / Tổng số con theo dõi) × 100
    • Tỷ lệ khỏi bệnh (%) = (Tổng số con khỏi bệnh / Tổng số con điều trị) × 100
    • Tỷ lệ chết (%) = (Tổng số con chết / Tổng số con mắc bệnh) × 100
    • Thời gian điều trị trung bình (ngày) = Tổng số ngày điều trị của từng con / Tổng số con điều trị

Nội dung chính theo từng chương

Phần 1. Mở đầu

Tác giả phân tích tính cấp thiết của ngành chăn nuôi lợn trong bối cảnh tái cơ cấu nông nghiệp, nhấn mạnh những thách thức dịch bệnh đối với đàn nái ngoại nhập nuôi tập trung. Phần này xác định rõ mục đích nghiên cứu là nắm vững quy trình nuôi dưỡng đàn nái sinh sản và theo dõi, thử nghiệm phác đồ điều trị các hội chứng bệnh sản khoa thường gặp tại cơ sở thực tập.

Phần 2. Tổng quan tài liệu

Chương này cung cấp mô tả chi tiết về điều kiện tự nhiên, cơ sở vật chất của trại lợn và hệ thống hóa lý thuyết liên quan:

  • Điều kiện cơ sở thực tập: Trại do ông Trần Hòa làm chủ đầu tư, thành lập năm 2007, nằm tại Cẩm Phả trên địa hình đồi núi ven biển (chịu khí hậu nhiệt đới gió mùa ven biển, độ ẩm 82 - 85%, nhiệt độ trung bình 21 - 23°C). Cơ sở hạ tầng gồm hệ thống chuồng kín nuôi 600 nái: 1 chuồng đẻ (2 gian, 100 ô kích thước 2,4 m × 1,6 m/ô), 1 chuồng bầu (2 gian, 500 ô kích thước 2,4 m × 0,65 m/ô), 3 chuồng thương phẩm (1 chuồng 1.000 con có giàn cho ăn tự động nhập từ Đan Mạch, 2 chuồng 500 con), 1 chuồng úm (20 ô, 5 m × 6 m). Do nhiễm mặn ven biển không khoan được giếng ngọt, trại phải mua nước ngọt từ bên ngoài cho lợn uống; nước tắm rửa xả gầm được bơm từ ao lắng và khử trùng bằng Chlorine nồng độ 3 - 5 ppm.
  • Cơ cấu nhân sự: Gồm 1 giám đốc kiêm chủ trại, 1 quản lý, 3 kỹ sư của công ty De Heus, 1 đầu bếp, 5 công nhân và 3 sinh viên thực tập.
  • Cơ sở khoa học: Tổng thuật các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế về các yếu tố ảnh hưởng đến tuổi động dục (mùa vụ, ánh sáng, mật độ nuôi, tiếp xúc đực giống), quy trình dinh dưỡng theo chu kỳ chửa - đẻ, và cơ chế bệnh sinh của bệnh viêm tử cung, viêm vú, sót nhau, bại liệt sau đẻ.

Phần 3. Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Trình bày cụ thể đối tượng đàn nái tại trại Thiên Thuận Tường; thời gian triển khai trong 6 tháng (12/06/2022 – 10/12/2022); các nội dung thực hiện (thao tác chăm sóc, chế độ thức ăn, vệ sinh tiêu độc, lịch vaccine, theo dõi triệu chứng lâm sàng và thực hiện phác đồ điều trị); các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật và các công thức toán học tính tỷ lệ mắc, khỏi, chết.

Phần 4. Kết quả và thảo luận

Chương này tập trung phản ánh hai nhóm nội dung chính:

  • Kết quả phục vụ sản xuất: Cơ cấu đàn nái qua 3 năm (2020 - 2022) cho thấy số nái sinh sản tăng từ 304 con (năm 2020) lên 367 con (năm 2021) và đạt 485 con (năm 2022). Năng suất đạt 2,3 - 2,35 lứa/năm; số con sơ sinh bình quân 11,1 con/lứa; số con cai sữa đạt 10,04 con/lứa (cai sữa lúc 21 - 26 ngày tuổi). Tác giả đã hoàn thành 100% các định mức lao động: 320 lần cho ăn, 48 lần trộn thuốc vào thức ăn, 30 lần tắm lợn, 15 lần loại thải lợn, 320 lần vệ sinh chuồng trại, 48 lần phun sát trùng, 25 lần rải vôi, 180 lần rửa chuồng máng, thực hiện thụ tinh nhân tạo cho 150 nái, đỡ đẻ 59 ca, thiến 180 lợn con, mài nanh 149 con, cắt đuôi 156 con.
  • Kết quả thực hiện đề tài nghiên cứu: Theo dõi lâm sàng trên 120 nái nuôi con, phát hiện 10 con viêm tử cung (tỷ lệ 8,33%), 5 con viêm vú (tỷ lệ 4,16%) và 15 con bại liệt sau đẻ (tỷ lệ 12,49%). Kết quả điều trị đạt hiệu quả cao: viêm vú khỏi 100% (5/5 con), viêm tử cung khỏi 90% (9/10 con), bại liệt sau đẻ khỏi 70% (12/15 con).

Kết quả và đóng góp

1. Số liệu thực nghiệm và chỉ tiêu kỹ thuật chính

Cơ cấu đàn lợn giống tại trại trong giai đoạn 2020 - 2022 được thống kê chi tiết theo báo cáo kỹ thuật của công ty De Heus:

STT Phân loại đàn lợn Năm 2020 (con) Năm 2021 (con) Năm 2022 (con)
1 Lợn nái hậu bị 80 107 80
2 Lợn nái sinh sản 304 367 485
3 Lợn đực giống 10 13 10
Tổng Quy mô đàn 394 487 575

Về định mức dinh dưỡng chuồng dưỡng thai (chuồng bầu), trại áp dụng các mã thức ăn hỗn hợp chuyên biệt: lợn đực giống sử dụng thức ăn 3100 (2,5 kg/con/ngày); nái hậu bị dùng thức ăn 3000 (3,0 kg/con/ngày); nái mang thai dùng thức ăn 3030 (3,0 - 3,7 kg/con/ngày); nái cai sữa dùng thức ăn 3085 (2,0 kg/con/ngày). Khi nhiệt độ mùa đông hạ dưới 15°C, khẩu phần được cộng thêm 0,3 kg/con/ngày; giai đoạn nái chửa kỳ cuối được tăng thêm 0,5 kg/con/ngày.

Về công tác phòng bệnh bằng vaccine trên 120 nái mang thai, tỷ lệ an toàn đạt 100% đối với các mũi tiêm: Dịch tả lợn (tuần mang thai 9 - 10), Lở mồm long móng (tuần mang thai 11 - 12), Giả dại (tuần mang thai 12 - 13), E. coli (tuần mang thai 13 - 14) và tẩy giun (tuần mang thai 14 - 15). Tuy nhiên, có 4 lợn nái sau sinh có đàn con phát bệnh giả dại do sai sót kỹ thuật làm vaccine ở lứa trước, buộc phải tiêu hủy toàn bộ số lợn con.

Tình hình phát sinh bệnh sản khoa trên đàn nái nuôi con (theo dõi n = 120) và kết quả can thiệp điều trị được tổng hợp như sau:

STT Tên bệnh Số con theo dõi (con) Số con mắc (con) Tỷ lệ mắc (%) Phác đồ điều trị áp dụng Số con khỏi (con) Tỷ lệ khỏi (%)
1 Viêm tử cung 120 10 8,33 Thụt rửa cồn iodin pha loãng (1-2 lần/ngày trong 2 ngày); tiêm bắp Amoxicillin (20 ml/con/ngày), Oxytocin (2 ml/con), Ketoprofen (10 ml/con nếu sốt); liệu trình 3 - 5 ngày 9 90,00
2 Viêm vú 120 5 4,16 Tiêm bắp Amoxicillin (20 ml/con/ngày) kết hợp Oxytocin (2 ml/con); liệu trình 3 - 5 ngày 5 100,00
3 Bại liệt sau đẻ 120 15 12,49 Tiêm Canlphon@forte (20 ml/con); trở mình hàng ngày; bổ sung khoáng Ca, P; liệu trình 3 - 14 ngày 12 70,00

2. Giải pháp và kiến nghị của tác giả

  • Về chuồng trại: Cần điều chỉnh thiết kế nền chuồng đẻ. Nguyên nhân tỷ lệ nái bại liệt sau đẻ ở mức cao (12,49%) được xác định do nền chuồng thiết kế một nửa trát xi măng mịn, một nửa là bê tông đan, khiến sàn rất trơn trượt, lợn mẹ sau khi rặn đẻ mất sức dễ trượt ngã gây chấn thương cơ học vùng hông khum và thần kinh tọa.
  • Về kỹ thuật can thiệp: Khi điều trị viêm tử cung, việc sử dụng dung dịch cồn iodin pha loãng thụt rửa mang lại tác dụng kép vừa sát trùng vừa làm se và kích thích tái tạo niêm mạc; phối hợp Oxytocin giúp tử cung co bóp tống đẩy hoàn toàn dịch rỉ viêm ra ngoài, rút ngắn thời gian hồi phục để tránh loại thải nái.
  • Về an toàn sinh học: Cần tuân thủ nghiêm ngặt kỹ thuật phối tinh nhân tạo (vệ sinh bằng bột sát trùng Triple G, góc đưa que phối 45° hướng lên trên), tránh gây xây xước niêm mạc tử cung; giám sát chặt quy trình tiêm vaccine định kỳ.

3. Đóng góp của nghiên cứu

Khóa luận cung cấp số liệu thực tế về cơ cấu đàn và năng suất sinh sản tại một cơ sở chăn nuôi quy mô công nghiệp đặc thù vùng ven biển Quảng Ninh. Tác giả đã kiểm chứng trên thực tế hiệu quả của các phác đồ điều trị bệnh sản khoa (đạt tỷ lệ khỏi từ 70% đến 100%), đồng thời chỉ rõ lỗi thiết kế nền chuồng là căn nguyên chính dẫn đến tổn thương cơ học gây bại liệt nái sau sinh.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Văn bản khóa luận ghi nhận một số khó khăn và giới hạn thực tế tại cơ sở:

  • Khó khăn về nguồn nước: Vị trí trại ven biển không thể khoan giếng lấy nước ngọt ngầm, toàn bộ nước uống cho đàn lợn phải mua chở từ ngoài vào làm tăng chi phí vận hành; nước tắm và xả gầm phải dựa vào ao chứa xử lý Chlorine, tiềm ẩn biến động chất lượng nước theo mùa.
  • Khó khăn về chi phí và thị trường: Giá thức ăn chăn nuôi công nghiệp gia tăng liên tục, chi phí dành cho công tác phòng và điều trị bệnh cao do diễn biến dịch bệnh phức tạp.
  • Thiếu hụt lao động: Số lượng công nhân tại trại còn thiếu sót, gây ảnh hưởng nhất định đến tiến độ triển khai các công việc vệ sinh và chăm sóc.
  • Sự cố kỹ thuật: Đã xảy ra sai sót trong quy trình tiêm phòng vaccine giả dại ở đợt trước dẫn đến 4 nái sau sinh có triệu chứng bệnh, làm thiệt hại phải tiêu hủy toàn bộ các đàn lợn con liên quan.
  • Hạn chế điều trị: Bệnh bại liệt sau đẻ vẫn có tỷ lệ không khỏi chiếm 30% (3 con phải loại thải do điều trị quá 14 ngày không thuyên giảm).

Hướng nghiên cứu và can thiệp tiếp theo: Cần nghiên cứu cải tiến kết cấu bề mặt sàn chuồng đẻ (tạo độ nhám hợp lý hoặc sử dụng tấm lót chuyên dụng chống trượt); nghiên cứu tối ưu hóa quy trình xử lý nước ao nuôi nhằm chủ động nguồn nước; hoàn thiện quy trình kiểm tra hiệu giá kháng thể sau tiêm vaccine để ngăn chặn các lỗ hổng miễn dịch.

Giá trị tham khảo

Khóa luận có giá trị tham khảo thiết thực đối với:

  • Sinh viên chuyên ngành Thú y và Chăn nuôi thú y: Cung cấp tư liệu thực tế về quy trình thực tập tốt nghiệp, phương pháp thu thập số liệu lâm sàng, cách lập sổ nhật ký theo dõi cá thể nái sinh sản và kỹ năng đỡ đẻ, bấm nanh, cắt đuôi, thiến đực con.
  • Kỹ thuật viên trang trại lợn nái: Bản mô tả chi tiết quy trình 8 bước thụ tinh nhân tạo cho lợn nái (từ kích thích bằng đực giống, vệ sinh sát trùng bằng bột Triple G, kỹ thuật đưa que phối góc 45°, cơ chế khóa cổ tử cung) và quy trình vận hành máy trộn thuốc vào thức ăn chăn nuôi (tỷ lệ 1 lít nước/100 kg cám để tạo độ kết dính) là các tài liệu kỹ thuật có thể áp dụng trực tiếp.
  • Cán bộ thú y điều trị: Các phác đồ kết hợp Amoxicillin với Oxytocin trong điều trị viêm vú, viêm tử cung và phác đồ sử dụng Canlphon@forte điều trị bại liệt sau đẻ kèm thời gian liệu trình cụ thể là nguồn dữ liệu thực nghiệm đáng tin cậy.

Câu hỏi thường gặp

1. Khẩu phần ăn hàng ngày của đàn lợn tại chuồng bầu (chuồng dưỡng thai) được trang trại quy định như thế nào?
Theo quy định kỹ thuật từ công ty De Heus áp dụng tại trại, lợn đực giống ăn 2,5 kg/con/ngày (loại thức ăn 3100); lợn nái hậu bị ăn 3,0 kg/con/ngày (loại thức ăn 3000); lợn nái mang thai ăn từ 3,0 đến 3,7 kg/con/ngày (loại thức ăn 3030); lợn nái cai sữa ăn 2,0 kg/con/ngày (loại thức ăn 3085). Vào mùa đông khi nhiệt độ xuống dưới 15°C, mỗi con nái được bổ sung thêm 0,3 kg thức ăn/ngày; giai đoạn cuối thai kỳ được tăng thêm 0,5 kg/con/ngày.

2. Tỷ lệ mắc và nguyên nhân chính gây ra bệnh bại liệt sau đẻ trên đàn lợn nái tại cơ sở là gì?
Tỷ lệ mắc bệnh bại liệt sau đẻ ghi nhận trên đàn theo dõi là 12,49% (15/120 con). Nguyên nhân trực tiếp được tác giả xác định là do thiết kế nền chuồng đẻ có một nửa trát xi măng mịn và một nửa là bê tông đan, tạo độ trơn trượt cao khiến lợn nái sau khi sinh mất sức dễ bị trượt ngã chấn thương vùng hông khum và dây thần kinh tọa; ngoài ra còn do thao tác can thiệp kéo thai quá mạnh khi nái đẻ khó.

3. Phác đồ điều trị bệnh viêm tử cung được tác giả thực nghiệm mang lại kết quả ra sao?
Phác đồ gồm: thụt rửa âm đạo - tử cung bằng cồn iodin pha loãng với nước (1 - 2 lần/ngày, làm liên tục 2 ngày); tiêm bắp Amoxicillin 20 ml/con/ngày kết hợp Oxytocin 2 ml/con; trường hợp lợn sốt tiêm thêm Ketoprofen 10 ml/con; liệu trình điều trị kéo dài từ 3 đến 5 ngày. Kết quả điều trị đạt tỷ lệ khỏi 90% (9/10 con), chỉ có 1 con bị viêm quá nặng phải loại thải.

4. Tại sao trại lợn Thiên Thuận Tường phải mua nước ngọt từ bên ngoài về phục vụ chăn nuôi?
Do trang trại được xây dựng tại khu vực đồi núi ven biển thuộc phường Cửa Ông, thành phố Cẩm Phả, địa tầng bị nhiễm mặn nên không thể khoan giếng lấy nguồn nước ngọt ngầm tại chỗ. Trại bắt buộc phải mua nước ngọt chở từ ngoài vào cho lợn uống, còn nước tắm và vệ sinh xả gầm chuồng phải bơm từ ao lắng trong khuôn viên và xử lý khử trùng bằng Chlorine với nồng độ 3 - 5 ppm.

5. Lịch tiêm phòng vaccine cho lợn nái mang thai tại trại được phân bổ ở những tuần tuổi thai nào?
Lịch tiêm phòng bắt buộc cho lợn nái mang thai gồm: tiêm vaccine Dịch tả lợn ở tuần mang thai thứ 9 - 10; vaccine Lở mồm long móng ở tuần thứ 11 - 12; vaccine Giả dại ở tuần thứ 12 - 13; vaccine phòng bệnh do E. coli ở tuần thứ 13 - 14; và thực hiện tẩy giun sán ở tuần mang thai thứ 14 - 15.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Phạm Quang Trường đã phản ánh toàn diện hiện trạng tổ chức sản xuất và công tác thú y tại trang trại lợn nái quy mô công nghiệp của Công ty Cổ phần Khai thác khoáng sản Thiên Thuận Tường trong giai đoạn 2022. Đề tài cung cấp các số liệu thực tế về cơ cấu đàn, năng suất sinh sản (đạt 2,3 - 2,35 lứa/năm) và định mức dinh dưỡng, vệ sinh tiêu độc khử trùng. Đồng thời, nghiên cứu đã xác định tỷ lệ mắc 3 bệnh sản khoa phổ biến (viêm tử cung 8,33%, viêm vú 4,16%, bại liệt sau đẻ 12,49%) và chứng minh hiệu quả lâm sàng cao của các phác đồ điều trị bằng kháng sinh kết hợp Oxytocin, cồn iodin và khoáng vi lượng. Các phân tích về bất cập sàn chuồng và rủi ro gián đoạn nguồn nước ngọt mang lại giá trị tham khảo thiết thực cho công tác quản lý kỹ thuật tại các cơ sở chăn nuôi ven biển.