Đặt vấn đề Ngành chăn nuôi ở Việt Nam là một bộ phận quan trọng cấu thành của nông nghiệp Việt Nam cũng như là một nhân tố quan trọng trong nền kinh tế Việt Nam, tình hình chăn nuôi ở Việt Nam phản ánh thực trạng chăn nuôi, sử dụng, khai thác, chế biến và tiêu thụ các sản phẩm động vật (súc vật nuôi) và tình hình thị trường liên quan tại Việt Nam. Chăn nuôi Việt Nam có lịch sử từ lâu đời và đóng góp lớn vào cơ cấu kinh tế, xóa đói giảm nghèo cũng như đời sống từ bao năm qua. Hiện nay, theo xu thế của một nền kinh tế đang chuyển đổi, chăn nuôi Việt Nam cũng có những bước đi mới và đạt được một số kết quả nhất định.Chăn nuôi vẫn luôn là ngành kinh tế chủ lực và truyền thống của Việt Nam hiện nay, nhất là chăn nuôi lợn. Chăn nuôi lợn ở Việt Nam có từ lâu đời.
Theo một số tài liệu của khảo cổ học, nghề chăn nuôi lợn ở Việt Nam có từ thời đồ đá mới, cách đây khoảng 1 vạn năm. Lợn là ngành hàng chính trong chăn nuôi, quan trọng trong nông nghiệp, có vai trò đảm bảo an ninh thực phẩm cho đất nước. Thời gian qua, chăn nuôi lợn của Việt Nam gặp không ít khó khăn, thách thức về dịch bệnh, thương mại…cần được nhận diện rõ để ngành thay đổi và phát triển bền vững! Việt Nam sở hữu các giống lợn có năng suất và chất lượng cao, có một số giống đạt năng suất cao nhất thế giới. Các giống lợn nội của nước ta có khả năng thích nghi rất tốt đối với điều kiện chăn nuôi của Việt Nam.
Tuy nhiên năng suất thấp, tỷ lệ mỡ cao không đáp ứng được nhu cầu. Đời sống người dân nâng cao, nhu cầu ăn no, mặc ấm của ngày xưa được thay đổi bằng nhu cầu ăn ngon, mặc đẹp, vì thế mà các giống lợn ở địa phương đang được dần thay thế bởi giống lợn cao sản như Yorkshine, Land race, Hampshire, Dugoc,.với mục đích cải tiến dần Luan van 2 năng suất của đàn lợn nội, nuôi thuần hóa và nhân rộng của giống lợn ngoại, để đáp ứng nhu cầu ngày càng phát triển của thị trường. Chính vì sự quan trọng của nghành chăn nuôi và hoàn thành chương trình học trong Nhà trường, thực hiện “Học đi đôi với hành”, “Lý thuyết gắn liền với thực tiễn”, giai đoạn thực tập tốt nghiệp tại cơ sở thực tập rất quan trong đối với mỗi sinh viên, nhằm củng cố và hệ thống lại toàn bộ lý thuyết, nâng cao tay nghề, đồng thời tạo cho mình sự tự lập, lòng yêu nghề, có phong cách làm việc đúng đắn, đáp ứng được nhu cầu thực tiễn sản xuất. Thực tập tại các trang trại chăn nuôi sẽ giúp sinh viên nắm được phương pháp tổ chức và ứng dụng khoa học kỹ thuật vào thực tiễn sản xuất.
Xuất phát từ những cơ sở khoa học và thực tiễn trên, được sự đống ý của Ban chủ nhiệm khoa Chăn nuôi Thú y -Trường đại học Nông Lâm, Đại học Thái Nguyên cùng sự giúp đỡ tận tình của cô giáo hướng dẫn và cơ sở thực tập, em thực hiện chuyên đề: “Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng, phòng và điều trị bệnh cho lợn nái giai đoạn mang thai tại trại lợn Minh Châu, Thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh” 1. Mục tiêu và yêu cầu của chuyên đề 1. Mục tiêu - Đánh giá được tình hình chăn nuôi lợn tại trại Minh Châu, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh. -Học và thực hiện thành thạo quy trình nuôi dưỡng, chăm sóc, phòng và trị bệnh đàn lợn nái chửa tại cơ sở - Rèn luyện tay nghề nâng cao hiểu biết kinh nghiệm thực tế.
- Nhận biết được các bệnh hay xảy ra đối với lợn nái và phương pháp phòng trị bệnh hiệu quả nhất Luan van 3 1. Yêu cầu - Ðánh giá được tình hình chăn nuôi tại trại Minh Châu, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh. - Nắm vững thực hiện quy trình nuôi dưỡng, chăm sóc, phòng, trị bệnh cho lợn nái. - Xác định được tình hình nhiễm bệnh trên đàn lợn nái và áp dụng được quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng.
- Thực hiện tốt các yêu cầu, quy định tại cơ sở, các quy định của khoa/nhà Trường. - Chăm chỉ, học hỏi để năng cao kỹ thuật, tay nghề của cá nhân. Luan van 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2. Điều kiện cơ sở nơi thực tập 2.
Vị trí địa lý Trại Minh Châu là trại gia công của Công ty cổ phần chăn nuôi CP Việt Nam. Trang trại được xây dựng trên địa bàn phường Hà Khánh, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh có địa hình khá phức tạp, đồi núi cao nằm sâu trong khu vực khai thác than xa khu dân cư với tổng diện tích khoảng 150ha, trong đó diện tích sử dụng là 9ha. Thành phố Hạ Long nằm ở trung tâm của tỉnh Quảng Ninh, có diện tích 271,95 km², với chiều dài bờ biển gần 50 km. Hạ Long có vị trí chiến lược về chính trị, kinh tế, an ninh quốc phòng của khu vực quốc gia.
Phía Đông giáp thành phố Cẩm Phả. Phía Tây giáp thị xã Quảng Yên. Phía Bắc giáp huyện Hoành Bồ. Phía Nam là vịnh Hạ Long.
Đặc điểm khí hậu Thành phố Hạ Long là một thành phố thuộc tỉnh Quảng Ninh, ở vùng Đông Bắc Bộ, chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa thuộc vùng khí hậu ven biển, với 2 mùa rõ rệt là mùa đông và mùa hè. Do đó, trại Minh Châu cũng chịu ảnh hưởng chung của khí hậu vùng. - Nhiệt độ: trung bình hằng năm là 23,7°C. Mùa đông thường bắt đầu từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, nhiệt độ trung bình là 16,7°C rét nhất là 5°C.
Mùa hè từ tháng 5 đến tháng 10, nhiệt độ trung bình vào mùa hè là 28,6°C, nóng nhất có thể lên đến 38°C. - Lượng mưa: trung bình một năm của Hạ Long là 1832 mm, phân bố không đều theo 2 mùa: mùa hè, mưa từ tháng 5 đến tháng 10, chiếm từ 80 - Luan van 5 85% tổng lượng mưa cả năm. Lượng mưa cao nhất vào tháng 7 và tháng 8, khoảng 350mm; mùa đông là mùa khô, ít mưa, khoảng 15 - 20% tổng lượng mưa cả năm. Lượng mưa ít nhất là tháng 12 và tháng 1, chỉ khoảng từ 4 đến 40 mm.
- Độ ẩm: không khí trung bình hằng năm là 84%. Đồng thời khí hậu ở Hạ Long có 2 loại hình gió mùa hoạt động khá rõ rệt là gió Đông Bắc về mùa đông và gió Tây Nam về mùa hè. Hạ Long là vùng biển kín nên ít chịu ảnh hưởng của những cơn bão lớn, sức gió mạnh nhất trong các cơn bão thường là cấp 9, cấp 10. - Bão, giông: mỗi năm Quảng Ninh (trong đó có Hạ Long) chịu ảnh hưởng trung bình của 5 - 6 cơn bão, năm nhiều có tới 9 - 10 cơn.
Bão thường tới cấp 8 - 9, cá biệt đã có những cơn bão cấp 12. Tháng 7, tháng 8 là những tháng bão hay đổ bộ vào Quảng Ninh. Các cơn giông thường xảy ra trong mùa hè, trung bình mỗi tháng có 5 ngày. Giông thường xảy ra vào buổi trưa, chiều.
- Chế độ gió mùa: mùa đông từ tháng 10 đến tháng 3, tháng 4 năm sau thường chịu ảnh hưởng của gió Bắc, Đông Bắc, mỗi tháng từ 3 - 4 đợt. Mùa Hè từ tháng 5 đến tháng 9, chủ yếu là gió Nam, Đông Nam. Tốc độ gió trung bình năm là 3 - 3,4 m/s. Cơ cấu tổ chức của trại Cơ cấu tổ chức trại bao gồm có: • 1 chủ trại.
• 6 kỹ sư trại của Công ty CP • 3 tổ trưởng (1 tổ trưởng chuồng đẻ, 1 tổ trưởng chuồng bầu, 1 tổ trưởng hậu bị). Luan van 6 • 3 sinh viên. • 3 thợ điện nước chịu trách nhiệm vận hành và khắc phục khi có sự cố. • 2 cấp dưỡng phục vụ ăn uống.
Với đội ngũ như trên thì trang trại được chia ra làm hai khu vực: Khu vực chăn nuôi lợn nái sinh sản (gồm chuồng đẻ, chuồng lợn nái chửa, chuồng nái hậu bị) và khu vực chăn nuôi lợn thịt. Các khu vực trên đều thực hiện nghiêm túc các quy định của trại. Cơ sở vật chất của trại - Trang trại có tổng diện tích khoảng 150 ha, gồm khu chăn nuôi, khu nhà ở, các công trình phụ khác, đất trồng cây ăn quả, ao hồ và diện tích phần lớn còn lại rừng cây xanh che phủ chủ yếu là keo và bạch đàn để tạo môi trường không khí trong lành và điều hòa lượng nước ngầm. - Khu chăn nuôi chia làm hai khu riêng biệt gồm khu chăn nuôi lợn nái sinh sản và khu chăn nuôi lợn hậu bị.
- Khu chăn nuôi lợn nái sinh sản được bố trí xây dựng chuồng trại cho hơn 1000 nái với các giống sản xuất như: Landrace, Yorkshire, Duroc được nhập từ nước ngoài về có giá trị kinh tế cao, sức đề kháng tốt, tạo ra con giống tốt sức sản xuất cao. Chính vì vậy trang trại là nơi sản xuất ra lợn bố mẹ cung cấp lợn bố mẹ cho toàn bộ trang trại nuôi lợn thuộc chi nhánh Công ty CP Việt Nam. - Khu chăn nuôi lợn hậu bị có 8 dãy chuồng mỗi 1 chuồng gồm 20 ô chuồng số lợn mỗi chuồng từ 550 đến 700 con, luôn duy trì số lượng lợn trong khoảng 3600 đến 5000 lợn. - Một số công trình phụ khác phục vụ cho chăn nuôi như: kho thức ăn, kho thuốc, kho vật tư thiết bị điện và cơ khí, phòng pha tinh, phòng khử trùng.
Luan van 7 - Hệ thống chuồng được xây dựng khép kín, đầu mỗi chuồng là hệ thống giàn mát, cuối chuồng là hệ thống quạt thông gió. Riêng đối với chuồng nái đẻ thì đầu chuồng còn có hệ thống máy sưởi để điều chỉnh nhiệt độ khi thời tiết lạnh giá. - Phòng pha tinh có các dụng cụ hiện đại như: kính hiển vi, hệ thống cảm biến nhiệt, nồi hấp cách thủy, tủ sấy và các dụng cụ khác. - Trong khu chăn nuôi đường đi lại giữa các ô chuồng, các khu đều được đổ bê tông và có hố sát trùng.
- Xung quanh trại còn trồng rau, cây ăn quả, đào ao nuôi cá tạo môi trường thông thoáng. - Nguồn nước được khai thác sâu trong lòng núi cách biệt khu dân cư với mũi khoan sâu hơn 2000 m cung cấp nguồn nước sạch đã được kiểm định an toàn để phục vụ sản xuất. - Hệ thống xử lý chất thải được xử lý bằng bioga và hệ thống ép phân tự động hiện đại tạo ra nguồn phân hữu cơ phục vụ sản xuất nông nghiệp. Thuận lợi, khó khăn * Thuận lợi - Trại được xây dựng ở vị trí cách xa khu dân cư, thuận tiện đường giao thông.