CHƯƠNG 1 Vê bản chât, pháp luật lao động của các nước đêu có xu hướng bão vệ bên yếu thế là NLĐ, tạo thế cân bằng về quyền và trách nhiệm của hai bên, buộc NSDLĐ phải có trách nhiệm với NLĐ. Do đó, việc định nghĩa cụ thể về chấm dứt HĐLĐ cũng như phân loại chấm dứt hợp đồng lao động là điều cần thiết. Điều đó có ý nghĩa quan trọng trong khoa học pháp lý cũng như trong thực tiễn đời sống hàng ngày. Tuỳ theo mục đích nghiên cứu mà ta có thể tiếp cận chấm dứt hợp đồng ở dưới những góc độ khác nhau, phù hợp với mong muốn đặt ra.
Nhung dù đứng ở dưới góc độ nào thì vấn đề về quyền lợi và nghĩa vụ của NLĐ và NSDLĐ cũng cần được cân bằng, tránh gây bất lợi cho bất kì bên nào. THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM VÀ THỤC TIỄN THỰC HIỆN TẠI CÔNG TY CỔ PHẰN BÓC XẾP VẬN TẢI VÀ THƯƠNG MẠI DỊCH vụ BẮC HÀ 2. Thực trạng pháp luật của Việt Nam về chấm dứt hợp đồng lao động 2. Pháp luật về chấm dứt hợp đồng lao động do ý chi hai bên Thứ nhất, hợp đồng lao động hết hạn.
Nội dung về thời hạn hợp đồng được xem là nội dung không thể thiếu trong HĐLĐ. Việc thỏa thuận về thời hạn cùa hợp đồng được dựa trên mục đích, mong muốn, nhu cầu cũng như khả năng của hai bên. Vi vậy, khi HĐLĐ hết hạn, pháp luật vẫn đề cao sự thỏa thuận bằng việc có thể đương nhiên chấm dứt HĐLĐ, cũng như có thể kéo dài thêm nếu một thỏa thuận khác về thời hạn được tiến hành. Tuy nhiên, trong trường hợp NLĐ là thành viên ban lãnh đạo của tố chức đại diện người lao động tại cơ sở thì khi HĐLĐ hết hạn mà nhiệm kỳ chưa kết thúc thì NLĐ này được quyền tiếp tục làm việc cho đến khi hết nhiệm kỳ, NSDLĐ phải gia hạn họp đồng lao động.
Quy định này không có tính bắt buộc đối với NLĐ, tức là không cần đợi kết thúc nhiệm kỳ, NLĐ có thể chấm dứt họp đồng với điều kiện việc chấm dứt không bị coi là trái pháp luật. Thứ hai, công việc theo hợp đồng lao động đã hoàn thành. Theo căn cứ chấm dứt này, chỉ cần khối lượng, chất lượng công việc hoàn thành như hai bên đã thỏa thuận thì HĐLĐ đương nhiên chấm dứt. Vì vậy, cho dù thời hạn chưa kết thúc nhưng công việc được hoàn thành thi hợp đồng sẽ không còn hiệu lực.
Đây là trường hợp chỉ áp dụng cho NLĐ làm việc theo HĐLĐ với công việc xác định. Thứ ha, hai bên thỏa thuận chấm dứt hợp đồng lao động. Thỏa thuận chấm dứt được công nhận là họp pháp khi hai bên thống nhất 20 ý chí vê việc HĐLĐ châm dứt khi nào, không bên nào áp đặt ý chí cho bên nào. Dù việc thỏa thuận là quyền cùa các bên, nhưng do đặc thù của quan hệ lao động, pháp luật đã có quy định các trường hợp chấm dứt HĐLĐ cụ thể; quy định căn cứ, thủ tục thực hiện việc chấm dứt HĐLĐ.
Các bên chỉ có quyền thỏa thuận khi nội dung thỏa thuận không trái với quy định của pháp luật. Pháp luật về chẩm dứt hợp đồng lao động do ý chỉ của người sử dụng lao động Nguyên tắc cơ bản của pháp luật lao động là bảo vệ NLĐ. Tuy nhiên, trên cơ sở điều chỉnh quan hệ lao động thì pháp luật lao động cũng phải đảm bảo sự hài hòa về lợi ích của các bên trong quan hệ này. Vì thế, trong một số trường hợp, pháp luật cho phép NSDLĐ có quyền đơn phương chấm dứt HĐLĐ với NLĐ để đảm bảo quyền và lợi ích của mình.
Thứ nhất, NLĐ thường xuyên không hoàn thành công việc theo HĐLĐ Chấm dứt HĐLĐ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 36 BLLĐ 2019 là trường hợp pháp luật cho phép NSDLĐ được quyền đơn phương chấm dứt HĐLĐ đổi với NLĐ khi có căn cứ cho thấy khả năng làm việc của NLĐ không đáp ứng được yêu cầu. Theo quy định tại khoản 1 Điều 12 Nghị định sổ 05/2015/NĐ-CP hướng dẫn Bộ luật Lao động có nêu: “Người sử dụng lao động phải quy định cụ thê tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thành công việc trong quy chế của doanh nghiệp, làm cơ sở đánh giá người lao động thường xuyên không hoàn thành công việc theo hợp đồng lao động. Quy chế đảnh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ do người sử dụng lao động ban hành sau khi có ỷ kiến của tổ chức đại diện tập thề lao động tại cơ sở”. Có thể thấy, NSDLĐ cần tiến hành xây dựng Quy chế đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ của NLĐ.
Quy chế này chỉ được ban hành sau khi có ý kiến của tổ chức đại diện tập thể lao động. 21 Nêu không xây dựng Quy chê đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ của NLĐ, NSDLĐ sẽ không có căn cứ để thực hiện quyền đơn phương chấm dứt HĐLĐ với NLĐ. Mặc dù chưa có quy định cụ thể thế nào được coi là “thường xuyên không hoàn thành công việc”, nhưng về lý thuyết, nội hàm của khái niệm “thường xuyên” là liên tục và không gián đoạn; và với cách hiểu thông thường thì phải thỏa mãn điều kiện: nhiều lần, liên tục. Quy định này đã tạo điều kiện cho NSDLĐ được chủ động trong việc ban hành Quy chế để đánh giá mức độ hoàn thành công việc của NLĐ nhằm phù hợp với tính chất công việc cũng như lĩnh vực kinh doanh của doanh nghiệp.
Trên thực tế, điều này đang được vận dụng rất khả thi. Bởi lẽ, nỏ phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, với các cải tiến đang áp dụng trong quan hệ lao động. Các công ty lớn, các tập đoàn kinh tế, công ty nước ngoài, hệ thống các Ngân hàng. đã lần lượt ban hành các quy chế về định mức lao động, để đánh giá chi tiết hiệu quả làm việc của mồi NLĐ.
Đây cũng được xem là căn cứ để khi NLĐ không hoàn thành công việc thì sẽ bị NSDLĐ đơn phương chấm dứt HĐLĐ. 77?ứ /z«í‘, NLĐ bị ốm đau, tai nạn đã điều trị 12 tháng liên tục đoi với người làm việc theo HĐLĐ không xác định thời hạn, đã điều trị 06 tháng liên tục, đoi với NLĐ làm việc theo HĐLĐ xác định thời hạn cỏ thòi hạn từ 12 • z • • • • thảng đến 36 tháng hoặc quả nửa thời hạn họp đồng lao động đối với người làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn dưới 12 tháng mà khá năng lao động chưa hồi phục. Mục đích của luật lao động là bảo vệ NLĐ, nhưng việc bảo vệ này cũng phải phù hợp với lợi ích của NSDLĐ. Do đó pháp luật quy định NLĐ được hưởng chế độ nghỉ ốm, nghỉ điều trị do tai nạn nhưng để đảm bảo quyền lợi của NSDLĐ, đảm bảo cho hoạt động sản xuất kinh doanh không bị ảnh hưởng quá nhiều, NSDLĐ được đon phuơng chấm dứt HĐLĐ nếu NLĐ bị ốm đau 22 phải nghỉ việc dài ngày trong khoảng thời gian nhât định mà khả năng lao động chưa hồi phục.
Khi sức khởe bình phục, NLĐ được xem xét để tiếp tục thực hiện HĐLĐ. Thứ ba, do thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh nguy hiểm, địch họa hoặc di dời, thu hẹp sản xuất, kinh doanh theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thâm quyền mà NSDLĐ đã tìm mọi biện pháp khắc phục nhưng vẫn buộc phải thu hẹp sản xuất, giảm chồ làm việc. Thiên tai, hỏa hoạn, địch họa, dịch bệnh là những sự kiện nằm ngoài ý chí chủ quan của NSDLĐ, NSDLĐ không thể dự đoán trước được và cho dù đã dùng mọi biện pháp nhưng vẫn không khắc phục được. Ngoài ra, pháp luật cũng quy định: Khi cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định doanh nghiệp phải di dời hoặc thu hẹp địa điểm sản xuất kinh doanh; nếu việc thay đổi đó dẫn đến việc phải chấm dứt HĐLĐ với NLĐ, thì pháp luật cho phép NSDLĐ đơn phương chấm dứt HĐLĐ để đảm bảo lợi ích của doanh nghiệp cũng như những NLĐ còn lại.
Tuy nhiên, để áp dụng được căn cứ này, NSDLĐ cần có chứng cứ chứng minh việc vận dụng căn cứ này là họp pháp. Điều đó nhằm tránh việc NSDLĐ lạm dụng quy định của pháp luật để đơn phương chấm dứt HĐLĐ với NLĐ. Thứ tư, khi NLĐ không có mặt tại nơi lâm việc sau thời hạn quy định tại Điều 31 của Bộ luật Lao động 2019. Điều 31 BLLĐ năm 2019 quy định: “Trong thời hạn 15 ngày, kê từ ngày hết thời hạn tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động, người lao động phải có mặt tại nơi làm việc và người sử dụng lao động phải nhận người lao động trở lại làm công việc theo hợp đồng lao động đã giao kết nếu hợp đồng lao động còn thời hạn, trừ trường hợp hai bên có thoa thuận hoặc pháp luật có quy định khác.” Pháp luật đã cho NLĐ có quyền được tạm hoãn thực hiện HĐLĐ.
Tuy 23 nhiên, trong khoảng thời gian 15 ngày, sau khi hêt thời hạn tạm hoãn, NLĐ cần có mặt tại nơi làm việc. Nếu quá thời hạn nêu trên, NSDLĐ có quyền đơn phương chấm dứt HĐLĐ. Đây là điều hoàn toàn hợp lý và chính đáng. Bởi lẽ, NSDLĐ cần có kế hoạch sản xuất kinh doanh phù hợp với thực trạng của doanh nghiệp.
Họ cỏ nhu cầu sừ dụng lao động nên mới ký HĐLĐ với NLĐ và sắp xếp NLĐ khác thay thế trong thời gian tạm hoãn thực hiện hợp đồng. Mặt khác, khi NLĐ vi phạm thời gian quay lại nơi làm việc sau khi hết thời hạn tạm hoãn theo quy định của pháp luật được xem là vi phạm sự thỏa thuận của hai bên trong HĐLĐ và chính NLĐ đã tự mình từ bỏ các quyền, nghĩa vụ trong quan hệ lao động đã được xác lập với NSDLĐ. Do vậy, việc quy định đây là một trong những căn cứ để NSDLĐ đơn phương chấm dứt HĐLĐ là điều cần thiết. Thứ năm, NSDLĐ xử lý kỷ luật sa thải NLĐ theo quy định của pháp luật.
Sa thải là mức kỷ luật cao nhất trong tất cả các hình thức kỷ luật. Khi áp dụng mức kỷ luật này, NSDLĐ đều dựa trên tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi và hậu quả do hành vi đó để lại, thậm chí nếu tiếp tục để NLĐ đó làm việc thì có thể khiến cho nề nếp của doanh nghiệp bị phá vờ, những NLĐ khác sẽ không còn muốn tiếp tục làm việc. Quyết định được đưa ra là dựa vào ý chí của NSDLĐ và dù HĐLĐ còn hạn hay không còn hạn, NLĐ muốn tiếp tục làm việc nữa hay không thì nó vẫn làm chấm dứt quan hệ lao động.