CHƯƠNG 1 CÔNG TY CỔ PHẦN VÀ NHỮNG ƯU THẾ CỦA NÓ TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN. KHÁI NIỆM CÔNG TY CỔ PHẦN. Sự ra đời, tồn tại và phát triển của CTCP gắn liền với nền kinh tế thị trường.
Với tính chất là một hiện tượng kinh tế - xã hội, CTCP nói riêng cũng như các loại hình công ty nói chung có thể được hiểu trên nhiều nghĩa khi tiếp cận từ các góc độ khác nhau. Từ góc độ kinh tế, CTCP là một tổ chức kinh tế chuyên thực hiện các hoạt động kinh doanh trên thị trường, là sự liên kết của nhiều người để tiến hành các hoạt động kinh doanh vì mục đích kiếm lời. Dưới góc độ pháp lý, CTCP là một pháp nhân kinh tế, được xác định bởi hệ thống pháp luật của mỗi quốc gia cụ thể. Vì vậy, CTCP là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học trong đó có khoa học pháp lý.
Trong khoa học pháp lý, CTCP được tiếp cận như là một thương nhân-pháp nhân. Các nhà nghiên cứu, các luật gia đưa ra rất nhiều cách định nghĩa về CTCP. Theo các nhà nghiên cứu kinh tế, pháp luật của Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa thì “CTCP (gọi là công ty hữu hạn cổ phần) là một loại hình công ty mà toàn bộ vốn chia thành các cổ phần có mức bằng nhau, cổ phần phát hành công khai theo pháp luật bằng hình thức cổ phiếu và tự do chuyển nhượng. Trong công ty hữu hạn cổ phần, số cổ đông rất nhiều, tài sản cá nhân tách riêng khỏi tài sản công ty, trách nhiệm đối với các món nợ của Công ty hạn chế ở muitc bỏ vốn của từng người ” [56, tr.
Dinh nghĩa này nhấn mạnh tính chất và cấu trúc vốn của CTCP và tính chất đa thành viên của nó cũng như giới hạn trách nhiệm của thành viên. Từ điển Bách khoa Việt Nam định nghĩa: CTCP là những công ty được hình thành trên cơ sở liên hợp tư bản cá nhân bằng cách phát hành và bán cổ phần và lợi nhuận của công ty dược phân phối giữa các cổ đông theo số lượng cổ phan” (39, tr. Định nghĩa của Từ điển Bách khoa nhấn mạnh chủ yếu khía cạnh kinh tế, cụ thể là tính chất của việc phân phối lợi nhuận, tính chất hợp vốn của công ty. Khác với cách tiếp cận từ góc độ kinh tế, các nhà luật học Việt Nam đã đưa ra định nghĩa pháp lý khá rõ ràng, cụ thể về CTCP: “C7CP là công ty trong đó VDL được chia thành những phan nhỏ nhất và bằng nhau gọi là cổ phần.
Người sở hữu cổ phần của công ty gọi là cổ đông. Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm trước nghĩa vụ của công ty đến hết giá trị cổ phần mà họ nắm giữ. Công ty gỗ quyền phát hành chứng khoán để công khai huy động vốn ”[43, tr. Định nghĩa này về CTCP nhấn mạnh đến tính chất và cấu trúc vốn, chế độ trách nhiệm của thành viên.
Như vậy, có thể nhận thấy rằng các định nghĩa về CTCP là không đồng nhất với nhau, nhưng những định nghĩa trên đều nêu những điểm chung nhất thể hiện bản chất của CTCP là doanh nghiệp vốn góp với cơ cấu vốn đặc thù và chế độ TNHH của các thành viên. Những quan điểm khác nhau về CTCP trong khoa học kinh tế, pháp lý dẫn đến hệ thống pháp luật của các quốc gia khác nhau cũng có những cách tiếp cận khác nhau về CTCP. Tại các quốc gia theo hệ thống dân luật (Civil Law), tiêu biểu là Pháp, Đức, CTCP là loại hình công ty đối vốn, có qui chế pháp lý riêng và được phân biệt rõ ràng với công ty đối vốn khác, đó là công ty TNHH [25, tr. Theo pháp luật của Cộng hoà Pháp, CTCP được gọi là công ty vô danh phải có ít nhất 7 cổ đông, VDL của công ty được chia thành các cổ phần với mệnh giá thống nhất là 100 F.
Các cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần. Công ty có thể phát hành chứng khoán để huy động vốn theo các quy định pháp luật về chứng khoán [50, tr. Ở Cộng hoà Liên bang Đức, theo luật về CTCP ngày 4/4/1892 (được sửa đổi ngày 4/7/1980), CTCP có những đặc điểm pháp lý cơ bản giống như công ty vô đanh của Pháp. Bên cạnh đó, CTCP của Đức cũng có những đặc điểm riêng thể hiện ở chỗ sau khi CTCP được chứng nhận tư cách pháp nhân thì toàn số vốn cổ phần có thể được chuyển nhượng cho một thành viên duy nhất và CTCP này sẽ trở thành doanh nghiệp một chủ.
Khác với các nước theo hệ thống dân luật, các nước theo hệ thống pháp luật Anh-Mỹ (hay còn được gọi là Common law) không phân chia công ty đối vốn thành CTCP hoặc công ty TNHH mot cách rõ rang. Tuy nhiên, ở các nước này tồn tại công ty có tính chất pháp lý tương tự như CTCP theo hệ thống dân luật. Ở Vương quốc Anh, công ty đối vốn được tổ chức dưới hình Công ty công -hitu han (Public limited Company) hay Công ty TNHH theo cổ phần (Company limited by Share). Công ty công hữu han có cấu trúc vốn linh hoại, VĐL được chia thành các cổ phần.
Các cổ phần đều có thể được chuyển nhượng trừ khi điều lệ công ty có quy định khác [49, tr. Ở Australia, công ty đối vốn có thể là Công ty công (Public Company) hoặc Công ty tu (Proprietary Company). Công ty công cua Australia có những đặc điểm pháp lý về cơ bản giống như Công ty công hữu hạn của Vương quốc Anh. Công ty bắt buộc tối thiểu phải có 5 thành viên và không bị hạn chế số lượng tối đa.
Vốn cổ phần của công ty được tự do chuyển nhượng theo quy định của pháp luật. Công ty công phải có kiểm toán viên và phải thực hiện chế độ báo cáo công khai tài chính hàng năm [1, tr. Ở Hoa Kỳ, pháp luật hiện hành quy định có ba loại hình Công ty: |. Công ty hợp danh (Partnership) là công ty trong đó một số thành viên không trực tiếp điều hành hoạt động của công ty, chịu trách nhiệm giới hạn trong phần hùn của họ; 2.
Công ty công (Public Corporation) là công ty có cổ phần bán rộng rãi cho công chúng; 3. Công ty đóng (Closed Corporation) là công ty giới hạn bởi số lượng cổ đông và không có cổ phần bán rộng rãi ra công chúng [25, tr. Hệ thống pháp luật các nước ASEAN, kể cả pháp luật công ty chịu ảnh hưởng sâu sắc hệ thống pháp luật của các nước trước đây đã từng áp đặt ách thống trị. Do các nước ASEAN chịu khá nhiều ảnh hưởng khác nhau từ các nước Anh, Mỹ, Pháp, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha nên trong pháp luật công ty cũng có những dấu ấn của ảnh hưởng trên.
Không có gì ngạc nhiên khi cách tiếp cận về CTCP của một vài nước ASEAN giống với các nước theo hệ thống dân luật và hệ thống pháp luật Anh-Mỹ, trong lúc đó có nước lại chịu ảnh hưởng của Common Law. Tuy nhiên, nhìn chung luật công ty của các nước trong khối ASEAN chịu ảnh hưởng hệ thống pháp luật Anh-Mỹ nhiều hơn. Ở Thái Lan, công ty hữu han được chia thành công ty công (public corporation) và công ty tư (private corporation ) tương tự như ở Hoa Kỳ. Công ty TNHH tu là công ty trong đó vốn được chia thành các cổ phần bằng nhau với mệnh giá nhất định.
Công ty được hình thành sau khi được Bộ thương mại đăng ký vào danh bạ. Đối với công ty TNHH tư không yêu cầu mức vốn tối thiểu, nhưng lại giới hạn số thành viên tối thiểu là 7 và số thành viên tối đa là 99. Công ty TNHH tư được điều chỉnh bởi Bộ luật dân sự và thương mại. Công ty TNHH công là công ty được thành lập để tạo điều kiện cho công chúng tham gia rộng rãi vì công ty phát hành các loại chứng khoán ra công chúng.
Công ty có số lượng thành viên tối thiểu là 100 không hạn chế số lượng thành viên tối đa. Công ty TNHH công được điều chỉnh bởi Luật công ty TNHH công năm 1978 [15, tư. Luật công ty của Philippines không phân chia công ty thành công ty TNHH và CTCP như các nước theo hệ thống dân luật truyền thống. Điều này cho thấy sự ảnh hưởng của hệ thống pháp luật Hoa Kỳ đối với lĩnh vực luật công ty của Philippines.
Pháp luật công ty của Philippines phân chia công ty thành công ty công (public corporation) và công ty tu (private corporation). Công ty công là công ty do Nhà nước thành lập và nắm giữ hoàn toàn tài sản. Nếu công ty mà trong đó Nhà nước nắm phần lớn cổ phiếu hoặc cổ phần thì cũng không được gọi là công ty công. Tiêu chí cơ bản để phân biệt giữa công ty công và công ty tư là mục đích hoạt động.
Công ty công hoạt động vì mục đích phúc lợi công cộng còn công ty tư hoạt động với mục đích lợi nhuận [15, tr. 88, 89] Như vậy, ở các quốc gia theo hệ thống dân luật hoặc hệ thống pháp luật Anh-Mỹ và các quốc gia chịu ảnh hưởng của hai hệ thống pháp luật đó, có những cách tiếp cận khác nhau về công ty, nhất là cách phân loại công ty công .và công ty tư. Việc so sánh các công ty này đòi hỏi phải nghiên cứu chúng một cách toàn diện vì pháp luật về CTCP ở các quốc gia này không đưa ra định nghĩa chính thức về CTCP. Ở Việt Nam, trong nền kinh tế tập trung bao cấp không tồn tại (hoặc nói chính xác hơn là hầu như không tồn tại) công ty với bản chất đặc trưng của nó là sự liên kết của các thành viên, cùng góp vốn nhằm thực hiện các hoạt động kinh doanh vì mục tiêu lợi nhuận, đù trên thực tế có rất nhiều tổ chức kinh tế được gọi là công ty.
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI năm 1986 đã đề ra đường lối đổi mới, chủ trương xây dựng nền kinh tế hàng hoá nhiều thành. phần theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa [16, tr. Chính sách này đã được thể chế bằng nhiều văn bản pháp luật. Trong số đó có Luật công ty 1990 - văn bản quan trọng cho sự xuất hiện và hoạt động của CTCP và công ty TNHH.
Theo luật công ty 1990, CTCP và công ty TNHH là loại hình công ty đối vốn có sự liên kết của nhiều thành viên cùng góp vốn, cùng chia nhau lợi nhuận và cùng chịu lỗ trong phạm vi phần vốn góp.