mở đầu một pha mới của chu kỳ kinh tế - pha phục hồi. Hầu hết kinh tế tại các khu vực đều phục hồi, Mỹ tăng trưởng 2,53%, các nước phát triển OECD đạt 2,93%, các nước châu Âu phục hồi chậm, đạt 2,08%. Một số nước khu vực châu Á đạt mức tăng trưởng kinh tế cao, tương đương 7,27% cao hơn so với năm 2006 (IMF, 2010). Suy thoái kinh tế thế giới gây ra những ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự phát triển kinh tế - xã hội của nhiều quốc gia, khiến quá trình phục hồi kinh tế thiếu bền LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Cụ thể, năm 2010, kinh tế thế giới có dấu hiệu phục hồi nhưng vẫn ẩn chứa những rủi ro và bộc lộ các dấu hiệu kìm hãm đà hồi phục như tỷ lệ thất nghiệp vẫn cao, nguy cơ vỡ nợ công ở châu Âu, tăng trưởng kinh tế nhiều nước đang phát triển chưa khôi phục mức trung bình của thời kỳ trước suy thoái, sự thiếu hợp tác giữa các nền kinh tế tăng lên hình thành nguy cơ xung đột thương mại, nguy cơ lạm phát tăng (đặc biệt tại các nước đang phát triển), sự phối hợp thiếu đồng bộ giữa chính sách tài khóa (CSTK) và chính sách tiền tệ (CSTT) làm suy giảm niềm tin vào chính sách kinh tế vĩ mô. Tuy nhiên, suy thoái kinh tế cũng như chu kỳ kinh tế xảy ra theo định kỳ. Đó là quy luật không thể tránh khỏi của nền kinh tế thị trường. Do đó, các doanh nghiệp và quốc gia chủ động thực hiện các chính sách kinh tế để hạn chế những tổn thất do chu kỳ kinh tế gây ra.
Sau khi nền kinh tế vượt qua pha suy thoái và bước sang pha phục hồi, để khắc phục những hậu quả này, các quốc gia trong đó có doanh nghiệp thường thực hiện tái cấu trúc kinh tế và bên cạnh đó, việc điều chỉnh các thể chế tài chính toàn cầu là điều tất yếu (Nguyễn Ngọc Thạch và Lý Hoàng Ánh, 2014). Việt Nam, một nền kinh tế đang phát triển quy mô nhỏ, tham gia ngày càng sâu và rộng vào hệ thống kinh tế thế giới. Vì vậy, suy thoái kinh tế thế giới kéo dài đã gây những khó khăn cho nền kinh tế Việt Nam. Tăng trưởng kinh tế của Việt Nam chậm lại.
Trong thời kỳ suy thoái kinh tế thế giới (quý 1/2007-quý 4/2010), tăng trưởng kinh tế Việt Nam bình quân đạt 6,12%/năm, thấp hơn so với thời kỳ trước suy thoái kinh tế thế giới (quý 1/2000-quý 4/2005) với tốc độ bình quân đạt 6,88%/ năm. Đặc biệt, từ quý 1/2008, tăng trưởng kinh tế của Việt Nam đã bắt đầu giảm, chỉ đạt 7,52%, tiếp tục giảm ở các quý tiếp theo và chạm đáy của sự suy giảm tại quý 1/2009 với mức thấp nhất là 3,12%. Vốn đầu tư nước ngoài (FDI) giảm từ 9,58 tỷ USD vào năm 2008 xuống còn 7,6 tỷ USD vào năm 2009, tương ứng với mức giảm 20,67%. Tình trạng thâm hụt cán cân thương mại trở nên nghiêm trọng, nhất là trong thời kỳ suy thoái kinh tế thế giới với mức nhập siêu trung bình đạt 14,4 tỷ USD.
Chỉ xét riêng năm 2008, thâm hụt cán cân thương mại là 18,03 tỷ USD, cao nhất trong 10 năm gần đây. Lạm phát tăng liên tục đến mức kỷ lục trong vòng 10 năm qua, đạt đỉnh 27,73% LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 3 vào quý 3/2008, rủi ro tài chính tăng cao (IMF, 2007-2010). Sau thời gian tăng trưởng nóng (2006-2007), TTCK Việt Nam đã bắt đầu sụt giảm và có những biến động khó lường, chỉ số VNINDEX của TTCK Việt Nam đã chạm đáy ở mốc 234,66 điểm vào ngày 24/02/2009 (CTCP Chứng Khoán Sài Gòn, 2006-2007). Suy thoái kinh tế thế giới kéo dài gây bất ổn cho môi trường kinh tế vĩ mô - thị trường xuất khẩu bị thu hẹp, dòng vốn đầu tư quốc tế và nhu cầu tiêu dùng của các nước giảm mạnh, tăng trưởng kinh tế chậm, TTTC suy giảm, lạm phát tăng cao.
Vì vậy, trong thời kỳ này NHNN đã thực hiện CSTT thắt chặt thận trọng (NHNN Việt Nam bắt đầu điều chỉnh tăng các loại lãi suất chỉ đạo, lãi suất huy động và cho vay tăng cao - cao nhất đạt 20,10% vào quý 3/2008). Bên cạnh đó, lãi suất cho vay tăng làm tăng chi phí hoạt động của doanh nghiệp, trong khi các TCTD hạn chế cấp tín dụng nên doanh nghiệp càng khó khăn trong huy động nguồn vốn này, dẫn đến tình hình sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp trong nước trì trệ.000 doanh nghiệp giải thể, tạm ngừng hoạt động và tình trạng này kéo dài trong những năm tiếp theo, ngay cả khi nền kinh tế thế giới đã có dấu hiệu phục hồi. Từ năm 2011 đến năm 2015, trung bình mỗi năm có khoảng 63.520 doanh nghiệp giải thể và tạm ngừng hoạt động, tương ứng với tốc độ tăng bình quân 76,65% (VCCI, 2011-2015). Một trong những nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng này là do các doanh nghiệp Việt Nam chủ yếu là doanh nghiệp vừa và nhỏ, có quy mô kinh doanh, vốn đầu tư thấp, cơ cấu tài chính chưa phù hợp, hiệu quả đầu tư chưa cao, khả năng thanh toán và cạnh tranh thấp.
Đặc biệt trong bối cảnh suy thoái kinh tế thế giới, NHNN thực hiện CSTT thắt chặt – điều chỉnh tăng lãi suất chỉ đạo, tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc thêm 1%, nâng hệ số rủi ro đối với cho vay BĐS và cho vay đầu tư chứng khoán lên 250%. Vì vậy, các tổ chức tín dụng (TCTD) hạn chế cấp tín dụng, doanh nghiệp khó tiếp cận vốn tín dụng, chi phí tài chính tăng cao. Trong khi đó, khả năng sinh lời của doanh nghiệp giảm, tình trạng mất khả năng thanh toán và mất cân đối tài chính càng nghiêm trọng. Doanh nghiệp dễ dẫn đến việc phá sản, giải thể khi không thể cạnh tranh được trên thị trường trong nước và quốc tế trong điều kiện khó khăn (VCCI, 2014).
Vì vậy, phạm vi nghiên cứu của đề tài tập trung vào nguyên nhân này, cụ thể là liên quan đến LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 việc xác định ngưỡng CTV mục tiêu và các yếu tố tác động đến việc lựa chọn CTV của các doanh nghiệp Việt Nam khi nền kinh tế thế giới ở pha suy thoái và so sánh với pha phục hồi. Từ đó, luận án gợi ý chính sách để các doanh nghiệp Việt Nam điều chỉnh việc lựa chọn CTV của mình nhằm đạt được ngưỡng CTV mục tiêu, nâng cao hiệu quả hoạt động và tăng giá trị doanh nghiệp. Theo số liệu từ báo cáo tài chính (BCTC) của 82 CTCP niêm yết trên hai Sàn Giao dịch Chứng khoán HOSE và HNX, mặc dù vốn kinh doanh của các doanh nghiệp này tăng dần từ quý 1/2007 đến quý 2/2016, với tốc độ tăng bình quân là 3,48%, nhưng việc tăng quy mô này chủ yếu do sự gia tăng nợ phải trả - chiếm 51,07% tổng nguồn vốn (TNV), trong đó nợ ngắn hạn (NNH) chiếm 62,40% nợ phải trả và tiềm ẩn rủi ro cao. Mặc dù trong ngắn hạn, khả năng thanh toán của các doanh nghiệp này được đảm bảo, nhưng vẫn tiềm ẩn rủi ro mất khả năng thanh toán - chỉ số thanh toán ngắn hạn giảm với tốc độ giảm bình quân 5,30% và có khoảng 23,17% số doanh nghiệp nghiên cứu rơi vào tình trạng mất cân đối tài chính kéo dài.
Tình trạng này trở nên thực sự nghiêm trọng trong thời kỳ suy thoái kinh tế thế giới, khi hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp khó khăn, tốc độ tăng trưởng doanh thu bình quân hàng năm thời kỳ này giảm mạnh với mức 1,88%. Theo đó, lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (VCSH) cũng có xu hướng giảm qua các năm với tốc độ giảm bình quân là 0,87%. Hệ quả là hàng loạt doanh nghiệp mất khả năng thanh toán đối với nợ đến hạn. Theo số liệu thống kê của NHNN, tỷ lệ nợ xấu trung bình của toàn hệ thống ngân hàng giai đoạn này chiếm 2,77% dư nợ với tốc độ tăng bình quân là 26,55%.
Bên cạnh đó, thông qua cơ chế lan truyền thông tin của Lý thuyết Keynes và Lý thuyết bầy đàn (Banerjee, 1992; Chari và Kehoe, 2004), trước những khó khăn của doanh nghiệp, các TCTD cơ cấu lại dư nợ và thu hẹp quy mô tín dụng, thêm vào đó TTCK, TTTP trong nước cũng bị thu hẹp nên khả năng tiếp cận các nguồn vốn của doanh nghiệp trở nên càng khó khăn. Tuy nhiên, trước bối cảnh nền kinh tế bất lợi như vậy, hầu hết các doanh nghiệp Việt Nam vẫn chưa có kế hoạch cụ thể và dài hạn về nguồn vốn mà việc lựa chọn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 CTV chủ yếu theo quan điểm chủ quan, chưa thực sự dựa trên các lý thuyết CTV hiện đại, gắn với các thời kỳ kinh tế cụ thể. Nhận định này được chứng minh bằng các số liệu sau đây. Khi nền kinh tế thế giới trong thời kỳ suy thoái, có hơn 51,22% doanh nghiệp sử dụng nợ trên ngưỡng nợ mục tiêu, do đó, chưa phát huy được vai trò của đòn cân nợ, nhưng ngược lại làm giảm hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.
Mặc dù, khi nền kinh tế thế giới phục hồi, tình hình tài chính của doanh nghiệp bắt đầu cải thiện, tuy nhiên số lượng doanh nghiệp sử dụng nợ trên ngưỡng nợ mục tiêu vẫn ở mức cao 39,02%. Mặt khác, trong toàn bộ thời kỳ (quý 1/2007-quý 2/2016), các yếu tố kinh tế vĩ mô chỉ giải thích 16,4% việc lựa chọn CTV của doanh nghiệp, kéo mức đóng góp này thấp xuống trong thời kỳ kinh tế thế giới phục hồi (4%). Trong khi đó, trong thời kỳ suy thoái kinh tế thế giới, tỷ lệ đóng góp này đạt 35%. Điều này chứng tỏ, trong thời kỳ suy thoái kinh tế thế giới, các nhà quản trị tài chính trở nên nhạy cảm hơn với các diễn biến kinh tế vĩ mô trong việc lựa chọn nguồn vốn, nhưng trong thời kỳ kinh tế thế giới phục hồi, trước triển vọng tăng trưởng, những biến động kinh tế vĩ mô bị các nhà quản trị doanh nghiệp xem nhẹ.
Đây có thể là một nguyên nhân dẫn đến tình trạng hàng loạt doanh nghiệp Việt Nam bị mất khả năng thanh toán không chỉ trong thời kỳ suy thoái mà ngay cả khi nền kinh tế thế giới phục hồi. Nhiều doanh nghiệp quá khó khăn buộc phải giải thể, ngừng hoạt động trong những năm này đã chứng minh điều đó. Như vậy, trong thời kỳ suy thoái cũng như kinh tế phục hồi, các nhà quản trị doanh nghiệp Việt Nam chưa xây dựng được CTV mục tiêu phù hợp với những điều kiện kinh tế thay đổi để nâng cao hiệu quả hoạt động và gia tăng giá trị công ty.