Cấu trúc sở hữu và thành quả hoạt động của công ty tại Việt Nam

Luận văn thạc sĩ phân tích ueh cấu trúc sở hữu và thành quả công ty bằng chứng tại việt nam, đánh giá thực trạng, chỉ ra hạn chế, đề xuất giải pháp khả thi cho thực tiễn.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2013

96
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

1.1. Tóm tắt các giả thiết nghiên cứu

1.2. Tổng quan các nghiên cứu trước đây

1.2.1. Sở hữu bởi thành viên HĐQT và thành quả hoạt động doanh nghiệp

1.2.2. Sở hữu bởi nhà nước và thành quả hoạt động của doanh nghiệp

1.2.3. Mức độ sở hữu tập trung và thành quả hoạt động của doanh nghiệp

1.2.4. Tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài và thành quả hoạt động của doanh nghiệp

1.2.5. Quy mô HĐQT và thành quả hoạt động doanh nghiệp

1.2.6. Sự kiêm nhiệm Chủ tịch HĐQT – Tổng giám đốc và thành quả hoạt động doanh nghiệp

1.3. Phương pháp nghiên cứu

1.3.1. Dữ liệu nghiên cứu

1.3.2. Mô tả mẫu

PHỤ LỤC

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trích đoạn nội dung tài liệu

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM ---------------------------- NGUYỄN PHƯỢNG HOÀNG CẤU TRÚC SỞ HỮU VÀ THÀNH QUẢ CÔNG TY BẰNG CHỨNG TẠI VIỆT NAM Chuyên ngành : Kinh tế Tài chính – Ngân hàng Mã số : 60.12 LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS. PHAN THỊ BÍCH NGUYỆT TP. HỒ CHÍ MINH – NĂM 2013 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 1 Tóm tắt Luận văn xem xét mối liên hệ giữa các đặc điểm của cấu trúc sở hữu và thành quả hoạt động doanh nghiệp, khám phá ảnh hưởng của các đặc điểm này cho những nhóm công ty hoạt động hiệu quả (hoặc chưa hiệu quả). Câu hỏi nghiên cứu được đặt ra là:cấu trúc sở hữu ảnh hưởng thế nào đến thành quả hoạt động của doanh nghiệp như thế nào? Kết quả cho thấy (i) quy mô ban điều hành có ảnh hưởng tích cực đến thành quả hoạt động của doanh nghiệp, đặc biệt có ý nghĩa đối với nhóm công ty có ROA cao; (ii); mức độ tập trung sở hữu có ảnh hưởng lớn thành quả hoạt động của doanh nghiệp, mối tương quan này là đồng biến nếu đo lường bằng Tobin Q và nghịch biến nếu đo lường bằng ROA(iii) không tìm thấy bằng chứng về tác động của tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư tổ chức nước ngoài lên thành quả hoạt động của doanh nghiệp, tuy các kết quả hồi quy cho mối quan hệ đồng biến nhưng lại không có ý nghĩa thống kê. Bên cạnh đó, tác giả cũng nhận thấy việc đo lường thành quả hoạt động bằng chỉ số Tobin’s Q hiệu quả hơn trong việc nhận diện mối liên hệ giữa cấu trúc sở hữu và thành quả hoạt động doanh nghiệp. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Giới thiệu: Tại nhiều công ty có tỷ lệ nhà đầu tư tổ chức nắm giữ cổ phiếu ở mức cao nhưng một số công ty lại không có điều này?Tại sao một số công ty có cơ cấu sở hữu khác biệt dẫn tới thành quả hoạt động khác hẳn nhau? Luận văn này hướng tới việc đánh giá các yếu tố thuộc cơ cấu sở hữu có tác động như thế nào đến thành quả hoạt động của các doanh nghiệp. Các thành phần của cơ cấu sở hữu tác động đến thành quả hoạt động của công ty đã được một số nghiên cứu trước đây của các tác giả tại một số quốc gia như Malaysia, Trung Quốc, Qatar… đề cập đến. Trong đó các yếu tố như tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài, sở hữu của ban điều hành, kiêm nhiệm chức danh chủ tịch HĐQT- Tổng giám đốc, mức độ tập trung sở hữu… là các yếu tố được quan tâm lớn nhất. Tuy nhiên, mức độ ảnh hưởng của các yếu tố này lên thành quả hoạt động của các doanh nghiệp ở từng quốc gia cụ thể có những kết quả khác biệt. Trong luận văn này, tác giả cố gắng đánh giá từng yếu tố thuộc cấu trúc sở hữu có ảnh hưởng lên thành quả hoạt động của công ty dựa trên yếu tố đo lường là các chỉ số ROE, ROA và Tobin’s Q. Phần tổng quan kết quả nghiên cứu trước đây sẽ trình bày các lý thuyết nền tảng, tóm tắt kết quả những bằng chứng thực nghiệm về mối liên hệ giữa các yếu tố của cơ cấu sở hữu lên thành quả hoạt động của doanh nghiệp. Từ đó tác giả phát triển mô hình nghiên cứu và giả thiết cho các mối liên hệ này. Những đặc điểm của cơ cấu sở hữu được xem xét trong luận văn bao gồm: (i) Tỷ lệ sở hữu của thành viên HĐQT; (ii) tỷ lệ sở hữu của cổ đông nhà nước; (iii) mức độ tập trung sở hữu; (iv) tỷ lệ sở hữu của cổ đông nước ngoài; (v) quy mô ban điều hành; (vi) sự kiêm nhiệm chức danh chủ tịch HĐQT- TGĐ. Bên cạnh đó, để việc xem xét các mối liên hệ được toàn diện hơn, tác giả đo LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 3 lường thành quả hoạt động của các doanh nghiệp theo ba chỉ số (a) cơ sở thị trường - chỉ số Tobin’s Q và (b) cơ sở sổ sách kế toán - chỉ số ROE và ROA Luận văn sử dụng mẫu nghiên cứu 116 công ty niêm yết trên hai sàn chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh (HOSE) và Hà Nội (HNX) trong 6 năm từ 2007 đến 2012, các kết quả của mô hình trong luận văn được chạy trên phần mềm Stata 11. Để lựa chọn phương pháp ước lượng, tác giả lần lượt hồi quy cho toàn mẫu và tiến hành kiểm định các giả thiết của từng phương pháp: (1) bình phương nhỏ nhất kết hợp tất cả quan sát (Pooled OLS); (2) bình phương nhỏ nhất tổng quát (Generalized Least Square - GLS) kết hợp hiệu ứng ngẫu nhiên (Random effect); (3) mô hình các ảnh hưởng cố định (Fixed effect model. Sau khi lựa chọn được phương pháp ước lượng phù hợp nhất tác giả thực hiện hồi quy cho toàn mẫu và cho các nhóm công ty (phân loại theo thành quả hoạt động cao và thấp) để xem xét ảnh hưởng của các nhân tố lên toàn mẫu và cho từng nhóm. Thêm vào đó, tác giả cũng thực hiện kiểm định t-test để xem xét sự khác biệt trong thành quả hoạt động giữa các nhóm công ty nhằm có thêm cơ sở xem xét các giả thiết nghiên cứu. Tổng quan các nghiên cứu trước đây 2.1 Sở hữu bởi thành viên HĐQT và thành quả hoạt động doanh nghiệp: Hình thức sở hữu bởi thành viên HĐQT. Các cổ phiếu được nắm giữ bởi HĐQT hay ban giám đốc được xem là sự khuyến khích để các thành viên trong ban giám đốc gia tăng sự nỗ lực của mình nhằm tối đa hóa lợi nhuận và giá trị cho công ty. Nhiều nghiên cứu đã được thực hiện trong lĩnh vực này. Tuy nhiên, kết quả không xác định rõ mối quan hệ chính xác của quyền sở hữu của ban điều hành và thành quả hoạt động của doanh nghiệp, cũng như chưa đề cập đến việc quyền sở hữu bởi ban điều hành có ảnh hưởng như thế nào đến việc thu hút các nhà đầu tư tổ chức bên ngoài trong việc nâng cao LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 thành quả hoạt động doanh nghiệp. Ví dụ, Ryu và Yoo (2011) đã tiến hành một nghiên cứu trên thị trường Hàn Quốc sử dụng dữ liệu bảng ( panel data) các công ty trên sàn chứng khoán Hàn Quốc để kiểm tra mối quan hệ giữa quyền sở hữu được nắm giữ bởi ban điều hành và nâng cao điều hành hoạt động của doanh nghiệp. Kết quả thực nghiệm của họ cho thấy rằng khi tăng tỷ lệ sở hữu, quyền kiểm soát công ty cũng tăng, nhưng giá cổ phiếu và lợi nhuận giảm. Nghiên cứu của Alfarooq et al. (2011) và Demsetz và Villalonga (2001) cũng cho thấy mối quan hệ nghịch biến của việc sở hữu bởi ban điều hành và Tobin’s Q. Ngoài ra, các tác động tiêu cực của quyền sở hữu bởi HĐQT lên thành quả hoạt động công ty cho thấy rằng khi các chi phí giám sát của các cổ đông đối với các thành viên HĐQT tăng lên , thì cơ hội của các công ty trong việc tìm kiếm cơ hội đầu tư sẽ bị giảm đi một cách đáng kể theo như nghiên cứu bởi Smith và Watts (1992). Ngoài ra, Jensen và Meckling (1976) cho rằng việc thiếu giám sát và thiếu các biện pháp kiểm soát đối với việc điều hành của Ban giám đốc đã làm giảm mức độ lòng tin nhà đầu tư đối với công ty. Vì vậy, như một phương thức để cải thiện niềm tin của nhà đầu tư và giảm chi phí kiểm soát hoạt động của ban giám đốc, họ thường được sở hữu một số lượng cổ phiếu nhất định của công ty và trở thành một trong những chủ sở hữu, vì vậy lợi ích của họ được liên kết với những cổ đông khác trong công ty qua đó góp phần làm gia tăng thành quả hoạt động. Theo Kelly (2008), những ưu đãi về sở hữu cổ phần thường có hiệu quả hơn công cụ giám sát khác kiểm soát điều hành của ban giám đốc. Tuy nhiên, theo nghiên cứu của Krivogorsky (2006) tìm thấy một mối quan hệ đồng biến giữa quyền sở hữu của ban điều hành và quản lý hoạt động công ty. Tương tự như vậy Cornett, Marcus, và Tehranian (2008) phát hiện ra mối LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 liên hệ đồng biến và có ý nghĩa giữa quyền sở hữu của ban điều hành và thành quả hoạt động. Ngoài ra, họ cũng chỉ ra rằng tác động tiêu cực bắt đầu xuất hiện khi các nhà quản lý ban giám đốc có cổ phần cao hơn, họ bắt đầu tập trung đến lợi ích riêng của họ và ít quan tâm đến điều hành hoạt động của công ty. Vì vậy, một mối quan hệ tiêu cực giữa việc điều hành hoạt động công ty và việc gia tăng quyền sở hữu của các nhà quản lý có nhiều khả năng xảy ra. McConnell và Servaes (1990) nghiên cứu hơn 1000 công ty niêm yết trên NYSE và AMEX cho năm 1976 và 1986, hai tác giả này nhận thấy mối quan hệ giữa tỷ lệ sở hữu và thành quả hoạt động có tương quan dương khi tỷ lệ sở hữu nhỏ hơn 40% và tương quan âm khi tỷ lệ này lớn hơn 40%. Nghiên cứu thực nghiệm tại Việt Nam của Trần Minh Trí và Dương Như Hùng (2011) đưa ra kết quả tương tự khi nghiên cứu 126 công ty niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán TP.HCM giai đoạn 2006 – 2009. Theo đó, tỷ lệ sở hữu và thành quả hoạt động có tương quan dương khi tỷ lệ sở hữu nhỏ hơn 59.1% và tương quan âm khi tỷ lệ này vượt quá 59. Theo đặc thù của thị trường Việt Nam có mối quan hệ sở hữu chéo và tương đối phức tạp trong sở hữu nhóm, căn cứ vào một số nghiên cứu trước đây ở nước ta. Trong nghiên cứu của mình, tác giả đề xuất giả thiết H1: Có sự tương quan âm giữa tỷ lệ sở hữu của thành viên HĐQT và thành quả hoạt động của các doanh nghiệp 2.2 Sở hữu bởi nhà nước và thành quả hoạt động của doanh nghiệp: Theo những nghiên cứu gần đây, đặc biệt là các nghiên cứu tại các thị trường mới nổi thì việc một nền kinh tế chuyển từ nên kinh tế chỉ huy nơi mà chính phủ sở hữu toàn bộ hoặc chi phối các doanh nghiệp trong nước và việc quản trị, điều hành hoạt động của công ty phải tuân theo mệnh lệnh của chính phủ. Việc hướng tới nền kinh tế thị trường đã dẫn tới sự đa dạng trong cơ cấu sở LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ