Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Gan là cơ quan giữ vai trò then chốt trong cơ thể sống, đảm nhiệm các chức năng chuyển hóa, giải độc và dự trữ năng lượng. Tuy nhiên, tế bào gan thường xuyên phải đối mặt với các nguy cơ tổn thương do virus, rượu bia, chế độ ăn uống không lành mạnh, cùng các loại hóa chất và dược phẩm chuyển hóa qua gan. Tình trạng tổn thương tế bào gan kéo dài dẫn đến nhiều bệnh lý nghiêm trọng như viêm gan, gan nhiễm mỡ và xơ gan. Các giải pháp điều trị bệnh lý gan hiện nay vẫn đối diện với nhiều thách thức về mặt an toàn và hiệu quả lâu dài.

Trong y học cổ truyền, việc sử dụng các vị thuốc thảo dược nhằm thanh nhiệt, giải độc và bảo vệ nhu mô gan là một hướng tiếp cận có lịch sử lâu đời. Trong đó:

  • Chè dây (Ampelopsis cantoniensis): Chứa hàm lượng phong phú các hợp chất flavonoid, đặc biệt là dihydromyricetin (ampelopsin), đã được nhiều công trình chứng minh có khả năng chống oxy hóa mạnh, ức chế men gan và giảm thiểu tổn thương tế bào gan trong các mô hình thực nghiệm.
  • Cúc hoa vàng (Chrysanthemum indicum L.): Giàu các polyphenol, luteolin và apigenin, có tác dụng thanh nhiệt, tiêu viêm, hỗ trợ tăng cường khả năng chống oxy hóa và cải thiện chức năng gan.
  • Cam thảo (Glycyrrhiza uralensis / Radix et Rhizoma Glycyrrhizae): Chứa hoạt chất chính là glycyrrhizin, có hoạt tính sinh học bảo vệ gan, kháng viêm, điều hòa miễn dịch và giảm stress oxy hóa trước các tác nhân độc hại.

Dù từng vị thuốc đã có những nghiên cứu riêng lẻ, việc phối hợp ba dược liệu trên thành một dạng bào chế cao khô hỗn hợp và tiến hành khảo sát toàn diện từ đặc tính lý hóa đến hoạt tính sinh học in vivo vẫn là một khoảng trống thực nghiệm cần được làm rõ. Đề tài "Nghiên cứu điều chế cao khô từ hỗn hợp gồm ba vị thuốc Chè dây, Cúc hoa, Cam thảo và đánh giá hoạt tính sinh học bảo vệ gan trên động vật thực nghiệm" được thực hiện bởi sinh viên Anousone Navixay (Trường Đại học Dược Hà Nội, 2025) nhằm giải quyết 2 mục tiêu cụ thể:

  1. Điều chế cao khô từ hỗn hợp gồm ba vị thuốc Chè dây, Cúc hoa, Cam thảo và khảo sát một số chỉ tiêu chất lượng của chế phẩm cao khô.
  2. Đánh giá tác dụng bảo vệ gan của cao chiết hỗn hợp ba vị thuốc Chè dây, Cúc hoa và Cam thảo trên mô hình gây viêm gan cấp tính bằng Paracetamol trên chuột thực nghiệm.

Phạm vi nghiên cứu thực nghiệm được triển khai tại Bộ môn Dược học cổ truyền - Khoa Dược liệu, Trường Đại học Dược Hà Nội.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Cơ sở lý thuyết

  • Nguyên lý phối ngũ Y học cổ truyền: Công thức bài thuốc kết hợp ba vị thuốc theo tỷ lệ khối lượng 4:1:1 (Chè dây : Cúc hoa : Cam thảo), vận dụng chặt chẽ học thuyết "Quân – Thần – Tá – Sứ":
    • Quân dược (Chè dây - 4 phần): Đóng vai trò chủ đạo, tác động vào căn nguyên bệnh nhiệt ẩm ở can, cung cấp hàm lượng hoạt chất chính dihydromyricetin.
    • Thần dược (Cúc hoa - 1 phần): Hỗ trợ thanh nhiệt, giải độc, gia tăng tác dụng kháng viêm và bảo vệ tế bào gan.
    • Tá/Sứ dược (Cam thảo - 1 phần): Điều hòa tỳ vị, giảm tác dụng phụ, hỗ trợ chống oxy hóa và tăng cường hiệu quả tổng thể của bài thuốc.
  • Tiêu chuẩn Dược điển Việt Nam V (DĐVN V): Chế phẩm cao khô thảo dược phải đạt yêu cầu về cảm quan, độ ẩm (mất khối lượng do làm khô không quá 5%) và đáp ứng các giới hạn kiểm nghiệm tiêu chuẩn.
  • Cơ chế gây độc gan của Paracetamol (APAP): Khi dùng quá liều, paracetamol chuyển hóa qua hệ enzym cytochrome P450 tạo thành lượng lớn chất trung gian độc hại $N$-acetyl-$p$-benzoquinone imine (NAPQI). Lượng NAPQI này làm cạn kiệt glutathione (GSH) nội sinh tại gan, gắn vào màng tế bào gan, gây hoại tử tế bào và làm phóng thích ồ ạt men gan (AST, ALT) vào máu.

Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm

  • Nguyên liệu và hóa chất: Dược liệu Chè dây, Cúc hoa, Cam thảo do Công ty Cổ phần Dược liệu Indochina Herb cung cấp. Hóa chất đối chứng gồm Silymarin (Madaus GmbH, Đức), Dihydromyricetin chuẩn 95%, Paracetamol, Kit định lượng AST và ALT.
  • Quy trình điều chế và khảo sát tá dược:
    • Chiết xuất bằng nước cất 2 lần (lần 1: tỷ lệ 1:13,3 w/v trong 90 phút; lần 2: tỷ lệ 1:10 w/v trong 90 phút).
    • Gộp dịch chiết, cô đặc thành cao đặc, tiến hành loại tạp bằng ethanol 96% theo tỷ lệ 1:9 (cao đặc : cồn).
    • Cô thu hồi cồn, phối hợp với 3 loại tá dược (Lactose, $\beta$-cyclodextrin, Maltodextrin) ở các tỷ lệ 5%, 10%, 20% và sấy khô ở nhiệt độ 70°C.
  • Phương pháp đánh giá chỉ tiêu lý hóa:
    • Mất khối lượng do làm khô: Sấy ở nhiệt độ 100°C đến khối lượng không đổi theo Phụ lục 9.6 DĐVN V.
    • Định lượng Dihydromyricetin (DHM): Phương pháp quang phổ hấp thụ tử ngoại – khả kiến (UV-Vis) ở bước sóng $\lambda = 290\text{ nm}$, dung môi ethanol 75%. Xây dựng đường chuẩn 5 nồng độ ($0{,}005 - 0{,}015\text{ mg/mL}$).
    • Khảo sát độ tan: Đo hàm lượng DHM hòa tan trong 5 mL nước ở 25°C sau 2 giờ khuấy và ly tâm (4.000 vòng/phút trong 15 phút), đo quang phổ UV-Vis tại bước sóng 290 nm.
  • Mô hình dược lý thực nghiệm in vivo:
    • Động vật thí nghiệm: Chuột nhắt trắng Swiss albino cả hai giống, khỏe mạnh, cân nặng $20{,}0 \pm 2{,}0\text{ g}$ do Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương cung cấp.
    • Thiết kế lô thử nghiệm ($n = 5$ mỗi lô): Lô 1 (Sinh lý - uống nước); Lô 2 (Bệnh lý - gây độc Paracetamol); Lô 3 (Chứng dương - uống Silymarin $200\text{ mg/kg}$); Lô 4 (Uống Dihydromyricetin $100\text{ mg/kg}$); Lô 5 (Uống Cao khô hỗn hợp $200\text{ mg/kg}$); Lô 6 (Uống Cao khô hỗn hợp $400\text{ mg/kg}$).
    • Chuột được uống mẫu thử liên tục 7 ngày. Vào ngày thứ 5 và thứ 6, gây tổn thương gan bằng Paracetamol đường uống (liều $200\text{ mg/kg}$ ngày 5 và $350\text{ mg/kg}$ ngày 6). Ngày thứ 7, lấy máu định lượng hoạt độ AST, ALT trên máy định lượng sinh hóa TC-3300 PLUS.
  • Xử lý số liệu: Phần mềm IBM SPSS Statistics 23, sử dụng kiểm định phi tham số Mann-Whitney U test để so sánh từng cặp lô nghiên cứu. Số liệu trình bày dạng $\bar{X} \pm SD$, mức ý nghĩa thống kê chọn $p < 0{,}05$.

Nội dung chính theo từng chương

Tổng quan tài liệu

Chương này tổng hợp các cơ sở dữ liệu khoa học về đặc điểm thực vật, phân bố, thành phần hóa học và tác dụng sinh học của ba vị thuốc:

  • Chè dây (Ampelopsis cantoniensis): Xác định các nhóm hoạt chất flavonoid (đặc biệt là dihydromyricetin, myricetin), tanin pyrocatechic (hàm lượng 10,82 – 13,3%), cùng các acid hữu cơ (acid gallic, acid vanillic...). Hoạt chất dihydromyricetin thể hiện hoạt tính kích hoạt AMPK, bảo vệ tế bào gan, kháng viêm thông qua ức chế NO/iNOS và ngăn ngừa tổn thương xơ vữa.
  • Cúc hoa (Chrysanthemum indicum L.): Thành phần gồm 38 flavonoid và 4 dihydroflavonoid (apigenin, luteolin, kaempferol, quercetin...), tinh dầu chứa monoterpenoid/sesquiterpenoid, acid phenolic. Dược liệu có khả năng tăng cường hoạt tính các enzym chống oxy hóa (SOD, CAT, GPx), ức chế các cytokine tiền viêm (TNF-$\alpha$, IL-6, IL-1$\beta$) và điều hòa protein apoptotic (Bcl-2, Bax).
  • Cam thảo (Radix et Rhizoma Glycyrrhizae): Nhóm saponin triterpenoid với acid glycyrrhizic (glycyrrhizin) là chủ đạo, cùng flavonoid liquiritin, isoliquiritin. Tác dụng sinh học bao gồm giảm men gan, giảm hoại tử tế bào gan, điều hòa miễn dịch và chống oxy hóa qua bẫy gốc tự do DPPH.
  • Tổng quan cũng phân tích các phương pháp điều chế cao khô thảo dược theo quy chuẩn DĐVN V và ưu thế của mô hình gây viêm gan cấp tính bằng Paracetamol trên chuột nhắt trắng.

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

Chương này chuẩn hóa các thông số kỹ thuật thực nghiệm:

  • Trình bày chi tiết công thức chuẩn bị nguyên liệu: 200 g Chè dây, 50 g Cúc hoa, 50 g Cam thảo.
  • Quy trình chiết xuất hai lần với nước sôi (4 L và 3 L), cô đặc, loại tạp bằng cồn 96% tỷ lệ 1:9, phối hợp tá dược và sấy khô ở 70°C.
  • Xây dựng quy trình định lượng quang phổ UV-Vis cho dihydromyricetin: dung dịch chuẩn pha trong cồn 75%, quét bước sóng cực đại $\lambda = 290\text{ nm}$. Phương trình đường chuẩn thiết lập được: $$y = 47{,}044x + 0{,}0277 \quad (R^2 = 0{,}9995)$$
  • Thiết lập quy trình thử nghiệm độ tan và phác đồ gây độc hoại tử gan bằng Paracetamol phân liều kép ($200\text{ mg/kg} + 350\text{ mg/kg}$) trên chuột Swiss albino.

Thực nghiệm, kết quả và bàn luận

Chương này công bố và phân tích toàn bộ số liệu thực nghiệm thu được:

  • Hiệu suất điều chế: Từ 300 g hỗn hợp ba dược liệu thô ban đầu, khối lượng cao khô trung bình thu được sau các đợt điều chế đạt $3{,}45 \pm 0{,}3\text{ g}$ (trên tổng số 10 mẻ điều chế).

Khảo sát các chỉ tiêu chất lượng của cao khô

1. Cảm quan và hàm ẩm: Cao khô nguyên bản không thêm tá dược có thể chất mịn, khô, màu cam nâu đậm, vị chát, đắng, hơi ngọt nhưng rất dễ hút ẩm ngoài không khí. Khi bổ sung tá dược, đặc tính lý hóa biến đổi rõ rệt tùy thuộc vào nhóm tá dược.

Công thức tá dược Khối lượng trước sấy (g) Khối lượng sau sấy (g) Hàm ẩm (%) Đánh giá DĐVN V (< 5%)
Không tá dược 1,0046 0,9178 8,64 Không đạt
Lactose 5% 1,0000 0,9555 4,45 Đạt
Lactose 10% 1,0094 0,9659 4,31 Đạt
Lactose 20% 1,0050 0,9337 7,09 Không đạt
$\beta$-cyclodextrin 5% 1,0098 0,9368 7,23 Không đạt
$\beta$-cyclodextrin 10% 1,0020 0,9303 7,16 Không đạt
$\beta$-cyclodextrin 20% 1,0028 0,9689 3,38 Đạt (Tối ưu)
Maltodextrin 5% 1,0008 0,9449 5,59 Không đạt
Maltodextrin 10% 1,0010 0,9254 7,11 Không đạt
Maltodextrin 20% 1,0005 0,9081 9,24 Không đạt

2. Hàm lượng Dihydromyricetin và Độ tan: Hàm lượng hoạt chất DHM trong mẫu cao không tá dược đạt mức cao nhất (36,94%). Việc phối hợp tá dược làm giảm hàm lượng hoạt chất do hiệu ứng pha loãng khối lượng và khả năng tạo liên kết phức hợp. Ngược lại, tá dược giúp cải thiện đáng kể độ hòa tan của cao trong nước.

Mẫu khảo sát Nồng độ DHM $C$ (mg/mL) Mật độ quang (Abs) Hàm lượng DHM (%) Độ tan trong nước (mg/mL)
Không tá dược 0,00742 0,377 36,94 54,69
Lactose 5% 0,00715 0,364 35,60 88,99
Lactose 10% 0,00573 0,297 28,04 92,18
Lactose 20% 0,00561 0,292 27,94 91,33
$\beta$-cyclodextrin 5% 0,00714 0,364 35,57 118,61
$\beta$-cyclodextrin 10% 0,00564 0,293 27,67 141,63 (Tối ưu)
$\beta$-cyclodextrin 20% 0,00507 0,308 25,19 122,36
Maltodextrin 5% 0,00679 0,347 33,83 65,68
Maltodextrin 10% 0,00596 0,308 29,73 75,38
Maltodextrin 20% 0,00590 0,305 29,07 58,17

Đánh giá hoạt tính sinh học bảo vệ gan trên chuột thực nghiệm

Mô hình hoại tử tế bào gan do Paracetamol được thiết lập thành công khi men AST và ALT ở lô bệnh lý tăng vọt so với lô sinh lý ($p < 0{,}05$).

Lô thử nghiệm ($n=5$) Hoạt độ AST (U/L) Mức giảm AST (%) Giá trị $p$ (so với Bệnh lý) Hoạt độ ALT (U/L) Mức giảm ALT (%) Giá trị $p$ (so với Bệnh lý)
Lô 1: Sinh lý $2.469{,}66 \pm 3.403{,}51$ - $p_{1-2} = 0{,}008$ $1.202{,}01 \pm 1.069{,}51$ - $p_{1-2} = 0{,}032$
Lô 2: Bệnh lý (APAP) $26.893{,}56 \pm 10.222{,}92$ - - $5.998{,}61 \pm 3.703{,}24$ - -
Lô 3: Chứng dương (Silymarin 200 mg/kg) $3.717{,}75 \pm 6.540{,}50$ 86,18% $p_{2-3} = 0{,}016$ $556{,}78 \pm 218{,}91$ 90,72% $p_{2-3} = 0{,}008$
Lô 4: DHM (100 mg/kg) $19.422{,}03 \pm 14.109{,}14$ 27,78% $p_{2-4} = 0{,}548$ $4.795{,}25 \pm 3.106{,}26$ 20,06% $p_{2-4} = 0{,}690$
Lô 5: Cao hỗn hợp (200 mg/kg) $6.442{,}42 \pm 8.373{,}87$ 76,04% $p_{2-5} = 0{,}032$ $3.237{,}18 \pm 4.688{,}18$ 46,03% $p_{2-5} = 0{,}222$
Lô 6: Cao hỗn hợp (400 mg/kg) $19.381{,}07 \pm 13.411{,}90$ 27,93% $p_{2-6} = 0{,}347$ $5.664{,}13 \pm 4.235{,}52$ 5,58% $p_{2-6} = 0{,}917$
  • Về hoạt độ AST: Cao khô hỗn hợp ở liều $200\text{ mg/kg}$ làm giảm rõ rệt hoạt độ AST (giảm 76,04%) so với lô bệnh lý, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê ($p = 0{,}032$). Lô cao hỗn hợp liều $400\text{ mg/kg}$ và lô DHM $100\text{ mg/kg}$ đơn lẻ chỉ giảm lần lượt 27,93% và 27,78%, không có ý nghĩa thống kê ($p > 0{,}05$).
  • Về hoạt độ ALT: Lô chứng dương Silymarin thể hiện khả năng ức chế men ALT vượt trội (giảm 90,72%, $p = 0{,}008$). Lô cao hỗn hợp $200\text{ mg/kg}$ có xu hướng giảm 46,03% hoạt độ ALT nhưng do độ lệch chuẩn giữa các cá thể lớn nên sự khác biệt chưa đạt mức ý nghĩa thống kê ($p = 0{,}222$). Các lô cao $400\text{ mg/kg}$ và DHM đơn lẻ không thể hiện sự cải thiện rõ rệt trên chỉ số ALT.

Kết quả và đóng góp

Kết quả chính

  • Xây dựng quy trình bào chế: Đã hoàn thiện quy trình điều chế cao khô hỗn hợp ba vị thuốc Chè dây, Cúc hoa, Cam thảo (tỷ lệ 4:1:1) qua các giai đoạn: chiết nước 2 lần, cô đặc, loại tạp bằng cồn 96%, phối hợp tá dược và sấy khô ở 70°C.
  • Xác định công thức tá dược tối ưu:
    • Về chỉ tiêu hàm ẩm: $\beta$-cyclodextrin 20% cho hàm ẩm thấp nhất đạt 3,38%, tiếp theo là Lactose 10% (4,31%) và Lactose 5% (4,45%), đạt tiêu chuẩn dược điển (< 5%).
    • Về chỉ tiêu độ tan: $\beta$-cyclodextrin 10% giúp tăng độ tan lên mức tối đa $141{,}63\text{ mg/mL}$ (gấp 2,59 lần so với mẫu cao không tá dược đạt $54{,}69\text{ mg/mL}$).
    • Về bảo toàn hoạt chất: Nhóm bổ sung Lactose 5% và $\beta$-cyclodextrin 5% duy trì hàm lượng dihydromyricetin ở mức cao (lần lượt là 35,60% và 35,57%).
  • Xác nhận tác dụng sinh học trên mô hình in vivo: Cao khô hỗn hợp ở mức liều $200\text{ mg/kg}$ thể hiện khả năng hạ men gan AST rõ rệt trên chuột bị gây độc bằng Paracetamol (giảm 76,04%, $p < 0{,}05$).

Đóng góp khoa học và thực tiễn

  • Đề tài cung cấp dữ liệu thực nghiệm hoàn chỉnh về sự phối hợp giữa ba vị thuốc quen thuộc theo cấu trúc Quân - Thần - Tá - Sứ, chứng minh tính khoa học của việc phối ngũ y học cổ truyền trên các chỉ số sinh hóa hiện đại.
  • Thiết lập phương pháp định lượng quang phổ UV-Vis đơn giản, chuẩn xác đối với chất đánh dấu dihydromyricetin trong dạng bào chế cao khô phối hợp.
  • Đặt nền móng kỹ thuật và công thức cho việc phát triển các chế phẩm hỗ trợ bảo vệ gan từ nguồn nguyên liệu dược thảo trong nước.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế được ghi nhận

  • Tác dụng hạ men gan ALT của cao khô hỗn hợp ở liều $200\text{ mg/kg}$ chưa đạt mức ý nghĩa thống kê ($p > 0{,}05$), một phần do độ phân tán và độ lệch chuẩn số liệu giữa các cá thể chuột trong lô còn tương đối cao ($n=5$).
  • Cao khô hỗn hợp ở mức liều cao ($400\text{ mg/kg}$) và hoạt chất Dihydromyricetin đơn lẻ ($100\text{ mg/kg}$) chưa thể hiện tác dụng bảo vệ gan rõ ràng trên cả hai enzym AST và ALT trong điều kiện thực nghiệm này.
  • Nghiên cứu mới chỉ tập trung đánh giá hai chỉ số men gan huyết thanh (AST, ALT), chưa thực hiện khảo sát mô bệnh học tế bào gan cũng như các chỉ số chống oxy hóa nội sinh sâu hơn.

Hướng nghiên cứu tiếp

  • Tối ưu hóa sâu hơn tỷ lệ tá dược, khảo sát sự kết hợp đồng thời giữa các tá dược (như phối hợp Lactose và $\beta$-cyclodextrin) để đạt đồng thời hàm ẩm thấp và độ tan cực đại.
  • Thử nghiệm dải liều mở rộng của cao khô hỗn hợp để tìm ra khoảng liều điều trị tối ưu và an toàn nhất.
  • Đánh giá lại tác dụng của Dihydromyricetin đơn lẻ ở các mức liều và điều kiện dung môi khác nhau.
  • Mở rộng các chỉ tiêu đánh giá chức năng gan toàn diện: định lượng Bilirubin, ALP, GGT, các dấu ấn stress oxy hóa (SOD, MDA, GSH) và phân tích cấu trúc vi thể mô bệnh học gan nhuộm HE.

Giá trị tham khảo

  • Đối với sinh viên và học viên ngành Dược: Khóa luận là tài liệu tham khảo thực tế cho các phân môn Dược học cổ truyền, Bào chế học và Dược lý học thực nghiệm, đặc biệt là quy trình xây dựng đường chuẩn định lượng UV-Vis và kỹ thuật đánh giá độ tan của cao dược liệu.
  • Đối với nghiên cứu phát triển sản phẩm: Cung cấp thông số kỹ thuật hữu ích về sự biến thiên hàm ẩm, độ hòa tan và độ suy giảm hoạt chất khi phối hợp các nhóm tá dược Lactose, $\beta$-cyclodextrin và Maltodextrin trong công nghệ sấy khô cao thuốc.
  • Đối với các đề tài nghiên cứu gan mật: Bổ sung phương pháp luận chuẩn về việc thiết lập mô hình gây độc gan cấp tính phân liều kép bằng Paracetamol trên chuột nhắt trắng Swiss albino.

Câu hỏi thường gặp

1. Tại sao đề tài chọn tỷ lệ phối hợp Chè dây, Cúc hoa, Cam thảo là 4:1:1?

Tỷ lệ 4:1:1 được thiết kế dựa trên nguyên lý phối ngũ "Quân – Thần – Tá – Sứ". Chè dây giữ vai trò "Quân" chủ đạo chiếm 4 phần nhờ chứa hàm lượng lớn flavonoid và hoạt chất dihydromyricetin tác động trực tiếp vào căn nguyên tổn thương gan. Cúc hoa (1 phần) giữ vai trò "Thần" bổ trợ thanh nhiệt, kháng viêm. Cam thảo (1 phần) đóng vai trò "Tá - Sứ" điều hòa tỳ vị, giảm kích ứng, chống oxy hóa và dẫn thuốc. Dữ liệu dược lý cho thấy tỷ lệ này vừa bảo đảm liều lượng hoạt chất chính đủ mạnh, vừa tạo hiệu ứng hiệp đồng tối ưu.

2. Loại tá dược nào cho hiệu quả tốt nhất về độ tan và hàm ẩm của cao khô?

  • Về độ tan: $\beta$-cyclodextrin ở tỷ lệ 10% cho hiệu quả cao nhất, nâng độ tan lên $141{,}63\text{ mg/mL}$ (so với $54{,}69\text{ mg/mL}$ của mẫu không tá dược) nhờ khả năng tạo phức bao phân tử với các hoạt chất kém tan.
  • Về hàm ẩm: $\beta$-cyclodextrin ở tỷ lệ 20% giúp giảm hàm ẩm xuống mức thấp nhất là 3,38% (đạt tiêu chuẩn DĐVN V < 5%). Ngoài ra, Lactose ở tỷ lệ 5% (4,45%) và 10% (4,31%) cũng đạt tiêu chuẩn hàm ẩm. Maltodextrin không phù hợp do làm tăng hàm ẩm ở tỷ lệ cao (đạt 9,24% ở mức 20%).

3. Tác dụng hạ men gan của cao khô hỗn hợp liều 200 mg/kg đạt kết quả như thế nào?

Trên mô hình chuột bị gây tổn thương gan bằng Paracetamol, cao khô hỗn hợp liều $200\text{ mg/kg}$ làm giảm hoạt độ AST từ $26.893{,}56\text{ U/L}$ (ở lô bệnh lý) xuống còn $6.442{,}42\text{ U/L}$ (mức giảm 76,04%), sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với $p = 0{,}032$. Đối với chỉ số ALT, liều này giúp giảm 46,03% hoạt độ enzym (từ $5.998{,}61\text{ U/L}$ xuống $3.237{,}18\text{ U/L}$), tuy nhiên do biến động cá thể lớn nên sự khác biệt chưa đạt mức ý nghĩa thống kê ($p = 0{,}222$).

4. Tại sao Dihydromyricetin được chọn làm chất đánh dấu trong nghiên cứu?

Dihydromyricetin (ampelopsin) là hoạt chất flavanonol đặc trưng nhất của Chè dây, có tính chất hấp thụ tử ngoại đặc trưng tại bước sóng 290 nm. Hoạt chất này đã được nhiều tài liệu chứng minh có tác dụng bảo vệ tế bào gan thông qua cơ chế kích hoạt con đường tín hiệu AMPK, tăng cường enzym chuyển hóa và dọn dẹp gốc tự do ROS. Do đó, định lượng dihydromyricetin vừa giúp kiểm soát hàm lượng hoạt chất của Chè dây trong khối cao, vừa đại diện cho hiệu lực sinh học bảo vệ gan của toàn bộ chế phẩm.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp đã điều chế thành công cao khô từ hỗn hợp ba vị thuốc Chè dây, Cúc hoa và Cam thảo (tỷ lệ 4:1:1) và xác lập các thông số lý hóa quan trọng của chế phẩm. Kết quả cho thấy việc phối hợp tá dược $\beta$-cyclodextrin và Lactose đóng vai trò quyết định trong việc giảm độ ẩm đạt chuẩn Dược điển và nâng cao độ hòa tan của hoạt chất dihydromyricetin. Trên thực nghiệm in vivo, cao khô hỗn hợp ở mức liều $200\text{ mg/kg}$ thể hiện hoạt tính sinh học bảo vệ gan rõ rệt thông qua việc làm giảm 76,04% hoạt độ men gan AST trên chuột bị gây độc cấp tính bằng Paracetamol. Đây là cơ sở khoa học thực nghiệm có giá trị phục vụ định hướng nghiên cứu và phát triển các chế phẩm bảo vệ tế bào gan từ dược liệu thiên nhiên.