Nghiên cứu điều chế và xây dựng chỉ tiêu chất lượng cao đặc Tòa sang

Luận văn trình bày chi tiết nghiên cứu điều chế và xây dựng bộ chỉ tiêu chất lượng cho cao đặc Tòa sang, từ định tính đến định lượng dược liệu.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2019

105
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về Cao đặc Tòa sang và ứng dụng

Cao đặc Tòa sang là một sản phẩm dược học cổ truyền được nghiên cứu điều chế từ các vị thuốc quý như kim ngân hoa, đương quy, cúc hoa và liên kiều. Đây là một bài thuốc truyền thống được sử dụng để điều trị bệnh trứng cá và các bệnh da liễu khác. Sản phẩm này kết hợp hiệu quả của y học cổ truyền và công nghệ bào chế hiện đại, tạo ra một dạng cao chiết có nồng độ cao, dễ sử dụng và hiệu quả tối ưu. Chất lượng dược liệu được kiểm soát chặt chẽ theo tiêu chuẩn quốc tế, đảm bảo an toàn và hiệu quả cho người dùng.

1.1. Bệnh trứng cá Quan điểm y học cổ truyền

Theo y học cổ truyền, bệnh trứng cá được xem là do rối loạn chức năng khí máuđộc nhiệt tích tụ. Phương thuốc Tòa sang tiễn tễ được thiết kế để thanh nhiệt độchoạt huyết hóa ứ, giúp cân bằng cơ thể và cải thiện tình trạng da. Các vị thuốc được lựa chọn có tính hàn, mát giúp làm dịu viêm nhiễm.

1.2. Các vị thuốc chính trong phương Tòa sang

Kim ngân hoa là thành phần chính với công dụng thanh nhiệt, kháng viêm mạnh mẽ. Đương quy giúp hoạt huyết, bổ huyết, trong khi cúc hoaliên kiều hỗ trợ thanh nhiệt độc. Mỗi vị thuốc được tiêu chuẩn hóa để đảm bảo hàm lượng chất hoạt tính nhất định, tạo nên một cao đặc có chất lượng ổn định và hiệu quả cao.

II. Phương pháp nghiên cứu điều chế cao đặc

Nghiên cứu điều chế cao đặc Tòa sang sử dụng phương pháp bào chế hiện đại với công nghệ chiết nước trong điều kiện tối ưu. Quá trình bào chế cao đặc bao gồm các bước: xay nhỏ dược liệu, chiết với dung môi nước, lọc và cơ chế loại bỏ nước. Mục tiêu là xây dựng các chỉ tiêu chất lượng toàn diện bao gồm hàm ẩm, tỷ lệ cao chiết và các chỉ tiêu định tính, định lượng. Sự tối ưu hóa quy trình bào chế đảm bảo cao đạt chất lượng cao nhất với tính chất vật lý ổn định.

2.1. Quy trình bào chế cao đặc

Dược liệu được chuẩn bịchiết nước ở nhiệt độ kiểm soát để tối đa hóa hàm lượng chất hoạt tính. Dịch chiết được lọc và làm cảnh bằng máy quay tâm hoặc máy làm lạnh. Năng suất tỷ lệ cao chiết thường đạt 25-30%, cho thấy hiệu quả cao của phương pháp chiết.

2.2. Xác định các chỉ tiêu chất lượng cơ bản

Hàm ẩm được xác định bằng phương pháp sấy, thường <8%. Tỷ lệ cao chiết tính từ khối lượng dược liệu ban đầu. Định tính thành phần sử dụng phản ứng hóa họcsắc ký lớp mỏng (SKLM) để phát hiện polyphenol, glycoside, tannin và các chất hoạt tính khác.

III. Đánh giá chất lượng dược liệu và cao đặc

Chất lượng dược liệu trong cao đặc Tòa sang được đánh giá toàn diện thông qua các chỉ tiêu định tính và định lượng. Phản ứng hóa học (PHỦH) được sử dụng để phát hiện các nhóm chất như polyphenol, flavonoid, tannin và glycoside. Sắc ký lớp mỏng (SKLM) so sánh hình ảnh của cao và các dược liệu chuẩn, xác nhận sự có mặt của các chất chỉ thị. Định lượng acid chlorogenic (AC) bằng HPLC là chỉ tiêu chính, xác định được hàm lượng chính yếu trong cao. Các chỉ tiêu chất lượng này đảm bảo tính nhất quán giữa các batch và hiệu quả dược học.

3.1. Phương pháp định tính thành phần hóa học

Phản ứng hóa học giúp phát hiện flavonoid, tannin, polyphenol thông qua màu sắc với các thuốc thử đặc hiệu. SKLM so sánh mẫu cao với các dược liệu chuẩnbước sóng 254 nm, xác định được hình ảnh đặc trưng của các chất hoạt tính như acid chlorogenic từ kim ngân hoa.

3.2. Định lượng acid chlorogenic bằng HPLC

Phương pháp HPLC được thẩm định theo các tiêu chuẩn quốc tế với độ nhất quán hệ thống tốt. Đường chuẩn được thiết lập với mối quan hệ tuyến tính (R² > 0.99). Độ lặp lại, chính xácđộ đúng đều đạt yêu cầu. Hàm lượng AC trong các mẫu cao khảo sát được xác định chính xác, hỗ trợ kiểm soát chất lượng sản phẩm.

IV. Yêu cầu tiêu chuẩn và kiến nghị ứng dụng

Cao đặc Tòa sang phải đáp ứng các tiêu chuẩn chất lượng cao thuốc theo Dược điển Việt Nam và các tiêu chuẩn quốc tế. Yêu cầu cơ bản bao gồm: hàm ẩm ≤ 8%, tỷ lệ cao chiết ≥ 25%, độ pH phù hợp (4.0-6.5), không có tạp chất. Chỉ tiêu hóa học yêu cầu hàm lượng acid chlorogenic ≥ 0.5%, đảm bảo hiệu lực dược học. Kiến nghị là cần phát triển quy trình tiêu chuẩn hóa, lập dossier đăng ký theo quy định, thực hiện thử lâm sàng để xác định liều dùng tối ưuđưa sản phẩm vào ứng dụng lâm sàng có kiểm soát chặt chẽ.

4.1. Tiêu chuẩn chất lượng cao thuốc

Cao đặc phải có hàm ẩm thấp để bảo quản lâu dài. Tỷ lệ cao chiết cao chứng tỏ hiệu suất tốt. Độ pH kiểm soát đảm bảo ổn định công thức. Kiểm tra vi sinh vật đảm bảo an toàn sử dụng. Hàm lượng chất chỉ thị (acid chlorogenic) phải ổn định giữa các batch sản xuất, đáp ứng tiêu chuẩn dược liệu quốc tế.

4.2. Hướng phát triển và ứng dụng lâm sàng

Kiến nghị tiếp tục nghiên cứu các chỉ tiêu chất lượng bổ sung như hoạt tính kháng ôxy hóa, kháng viêm. Thực hiện thử lâm sàng với mẫu lớn để xác định liều dùng, tuần trìnhtác dụng phụ. Phát triển dạng bào chế khác như viên nén, kapsule để cải thiện tuân thủ của bệnh nhân.

21/12/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Mụn trứng cá là bệnh da liễu thông thường rất phổ biến, nhưng lại là một bệnh mạn tính khó điều trị dứt điểm, để lại sẹo thâm mất thẩm mĩ gây ảnh hưởng tới cả tâm lý của người bệnh. Trị mụn thường sẽ tác động vào nguyên nhân ngoại sinh bằng các sản phẩm bôi ngoài da để vệ sinh da, giảm bã nhờn, kháng viêm ngoài da. Mụn vẫn hết nhưng tái phát lại nhiều lần. Nguyên do là vì các yếu tố nội tiết và những thay đổi về chuyển hóa như: tuổi dậy thì, chu kì kinh nguyệt, căng thẳng thần kinh, ăn đồ cay nóng, dầu mỡ.

gây ra mụn. Trong lý luận của Y học cổ truyền, các yếu tố này được coi là nhiệt độc. Nhiệt độc tích tụ trong cơ thể nhiều thì sẽ biểu hiện ra bên ngoài da: mụn nhọt, mề đay. Từ ngàn năm ông cha ta đã sử dụng các thảo dược như: Kim ngân hoa, Diệp hạ châu.

để trị mụn nhọt qua cơ chế thanh nhiệt giải độc, điều hòa khí huyết của cơ thể. Lợi thế của thuốc từ thảo dược là điều trị dựa trên cơ địa người bệnh để điều chỉnh chức năng của cơ thể về trạng thái bình thường. Các thảo dược thân thiện với sức khỏe con người, ít độc hại và ít gây tác dụng không mong muốn hơn so với thuốc tân dược. Phương thuốc Tòa sang tiễn tễ có xuất xứ từ sách Trung Quốc “Trung Y bí phương đại toàn” đã được sử dụng để trị trứng cá.

Tuy nhiên với nhịp sống hiện đại việc sử dụng thuốc đông dược theo cách sắc truyền thống rất bất tiện. Mong muốn đưa ra các dạng bào chế hiện đại để tiện dụng cho bệnh nhân cũng như phát huy tác dụng ưu việt của thuốc cổ truyền, dạng bào chế cao đặc là dạng bán thành phẩm trung gian sản xuất ra các dạng bào chế khác. Từ những lý do trên đề tài “Nghiên cứu điều chế và xây dựng một số chỉ tiêu chất lƣợng của cao đặc Tòa sang” được thực hiện với các mục tiêu cụ thể:  Nghiên cứu điều chế cao đặc Tòa sang.  Khảo sát xây dựng một số chỉ tiêu định tính, định lượng của dạng cao đặc Tòa sang.

1 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN 1.1 Tổng quan về bệnh trứng cá. Theo quan điểm y học hiện đại 1.1 Định nghĩa Trứng cá (acne) là bệnh da thông thường gây nên do tăng tiết chất bã và viêm của hệ thống nang lông tuyến bã. Bệnh biểu hiện bằng nhiều loại tổn thương khác nhau như mụn cám, sẩn, sẩn viêm, mụn mủ, mụn bọc, nang. khu trú ở vị trí tiết nhiều chất bã như mặt, lưng, ngực.

Khoảng 80% trường hợp trứng cá gặp ở tuổi thanh thiếu niên, đặc biệt giai đoạn dậy thì [4].2 Căn nguyên bệnh sinh Mụn trứng cá được hình thành dưới tác động của 3 yếu tố chính: Đó là tăng sản xuất chất bã, sừng hóa cổ nang lông và vai trò của vi khuẩn Propionibacterium acnes.  Tăng tiết chất bã. Tuyến bã chịu sự điều tiết hoạt động của các hormon, đặc biệt là hormon sinh dục nam, các hormon này kích thích tuyến bã hoạt động và phát triển thể tích làm tăng bài tiết chất bã lên nhiều lần.  Sừng hóa cổ nang lông.

Cổ nang lông tuyến bã bị sừng hóa làm ống bài xuất tuyến bã bị hẹp lại, chất bã không thoát ra ngoài được nên bị ứ đọng lại trong lòng tuyến bã, lâu ngày bị cô đặc lại hình thành nhân trứng cá.  Sự gia tăng hoạt động của vi khuẩn Propionibacterium acnes (P. Bình thường P. acnes cư trú ở da một cách vô hại.

Khi các lỗ nang lông bị ứ lại, các chất bã và tế bào chết sẽ tạo nên môi trường kỵ khí và P. acnes có thể phát triển, trở nên gây bệnh.  Một số yếu tố khác liên quan đến hình thành mụn trứng cá: Tuổi, giới, yếu tố gia đình, yếu tố thời tiết, yếu tố nghề nghiệp, yếu tố stress, chế độ ăn, các bệnh nội tiết, thuốc, và một số nguyên nhân tại chỗ như vệ sinh da mặt…[4]. Triệu chứng lâm sàng  Trứng cá thể thông thường (acne vulgaris).

- Là hình thái thường gặp nhất của trứng cá với các thương tổn rất đa dạng như sau: Bắt đầu từ tuổi dậy thì, trên nền da nhờn xuất hiện các tổn thương nhân trứng cá (comedon) hay mụn đầu đen do chất bã bài tiết và tế bào biểu mô cô đặc lại. Sau đó, tùy mức độ viêm nhiều hay ít, nông hoặc sâu mà có các tổn thương như mụn đầu đen, đầu trắng, sẩn, mụn mủ, mụn bọc hay ổ áp xe. - Vị trí thường gặp là ở mặt, trán, cằm, má, phần trên lưng, trước ngực; ít khi xuống quá thắt lưng.  Các thể lâm sàng trứng cá nặng.

- Trứng cá dạng cục, dạng kén: hay gặp ở nam, tổn thương sâu hơn trứng cá thường và hình thành các kén có nguồn gốc nang lông. Ví trị thường gặp là mặt, cổ, xung quanh tai. - Trứng cá bọc (acne conglobata): là loại trứng cá mủ mạn tính, dai dẳng. Bắt đầu ở tuổi thiếu niên, có tổn thương dạng cục, hay để lại lỗ dò, luôn luôn để lại sẹo lõm.

- Trứng cá tối cấp (còn gọi là trứng cá bọc cấp tính, trứng cá có sốt và loét): bệnh xảy ra đột ngột với sốt, mệt mỏi, tăng bạch cầu đa nhân, hồng ban nút và các tổn thương trứng cá.  Các thể lâm sàng khác. - Trứng cá trẻ sơ sinh: xảy ra trong tháng đầu của trẻ sơ sinh. Tổn thương sẩn bằng đầu ghim ở tháp mũi, má, trán.

Tồn tại 5-7 ngày. - Trứng cá do thuốc: do thuốc nội tiết, azathioprin, thuốc có iod, thuốc tránh thai. Corticoid có thể gây trứng cá ở mặt, lưng, phía ngoài 2 cánh tay, thương tổn không có nhân. - Trứng cá muộn ở phụ nữ: gặp ở phụ nữ từ 30-40 tuổi, nguyên nhân do cường nội tiết sinh dục (nhất là buồng trứng), thường kèm theo rụng tóc.

3 - Trứng cá do hóa chất: do mỹ phẩm, do các chất halogen (clor, brom, iod), do xăng, dầu (còn gọi trứng cá hạt dầu: thường ở vùng mu bàn tay, cẳng tay, không có nhân) [4]. Điều trị  Mục tiêu. - Chống tiết nhiều chất bã. - Chống dày sừng cổ tuyến bã.

- Chống nhiễm khuẩn.  Thuốc điều trị. - Thuốc bôi tại chỗ: retinoid, benzoyl peroxide, kháng sinh , acid azelaic. - Thuốc toàn thân: kháng sinh (doxycyclin, tetracylin.), isotretinoin, hormon: thuốc đối kháng androgen có nguồn gốc tự nhiên.

 Tư vấn cho bệnh nhân. - Hạn chế dùng thuốc có chứa các chất thuộc nhóm halogen, corticoid. - Rửa mặt bằng xà phòng. - Ăn ít đường, chocola, chất béo, đồ rán.

- Tránh làm việc quá sức, stress tâm lý [4]. Theo quan điểm y học cổ truyền - YHCT gọi bệnh trứng cá là phấn thích hoặc tòa sang [13]. - YHCT cho rằng bệnh trứng cá phần lớn do phong nhiệt nung nấu, kết tụ ở kinh phế sinh ra, hoặc do ăn quá nhiều chất cay nóng, dầu mỡ sinh ra thấp nhiệt, tích tụ tại bì phu, cân cơ, hoặc do tỳ vận hóa kém, sinh ra thấp nhiệt, như Nội kinh đã viết: “Không có nhiệt thời không sinh ban, không có thấp thời không sinh chẩn”. Trong đó, tổn thương của trứng cá theo YHCT là tổn thương dạng chẩn.

Có 5 loại nhọt độc do tâm, phế, can, tỳ, thận. Nhọt màu đỏ là tâm đinh, màu trắng là phế đinh, màu xanh hoặc tía là can đinh, màu vàng là tỳ đinh, màu đen là thận đinh [9], [13]. YHCT phân loại bệnh trứng cá thành các thể: thể phế kinh phong nhiệt, thể trường vị thấp nhiệt và thể tỳ hư, thể can uất huyết ứ [8], [9], [13]. 4 Thể phế kinh phong nhiệt Triệu chứng: Mụn trứng cá nóng, đỏ, hoặc sưng đau, có mụn mủ, ngứa, chất lưỡi đỏ, rêu vàng, mạch phù sác.

Pháp điều trị: Sơ phong, thanh nhiệt, tuyên phế Thể trƣờng vị thấp nhiệt. Triệu chứng: Bì phu trơn nhờn, phấn thích đỏ sưng, nổi sẩn, có mụn mủ kèm theo táo bón, tiểu vàng đậm, chán ăn, bụng đầy, chất lưỡi đỏ, rêu lưỡi vàng nhớt, mạch hoạt sác. Pháp điều trị: Thanh nhiệt, hóa thấp, thông phủ Thể tỳ hƣ Triệu chứng: Bệnh kéo dài, sắc da xám, kém tươi nhuận, tái phát nhiều lần, có cục hoặc bọc mủ, chán ăn, lưỡi bệu, rêu trắng, mạch nhu hoạt. Pháp điều trị: Kiện tỳ hóa thấp Can uất huyết ứ: Triệu chứng: Là do tâm trạng không thoải mái, can khi uất kết, khí trệ huyết ứ, ứ lâu hóa nhiệt, ứ kết tại da gây nên mụn, đặc điểm là mụn màu tím đỏ, trước khi hành kinh thì mụn nổi nhiều hơn, thường đi kèm với triệu chứng tức ngực, kinh nguyệt trước kì, máu có cục, lưỡi đỏ, nấm lưỡi trắng, mạch huyền.

Pháp điều trị: Sơ can hành huyết, thanh nhiệt giải độc. Phƣơng thuốc “Tòa sang tiễn tễ”.  Xuất xứ: Sách “Trung Y bí phương đại toàn”. Kim ngân hoa 30g Đương quy 12g Liên kiều 12g Cát cánh 9g Hoàng cầm 12g Cúc hoa 15g Xuyên khung 12g Ngưu tất 9g  Công năng, chủ trị của phương thuốc: - Công năng: Thanh nhiệt giải độc, tả hỏa thông tiện.

- Chủ trị: Trứng cá. 5  Giải thích phương thuốc. - Phương thuốc có Kim ngân hoa có tác dụng thanh nhiệt giải độc tiêu ung nhọt, giải biểu, thanh phế nhiệt là quân dược [17]. Liên kiều thanh nhiệt giải độc, tán kết.

Cúc hoa giải biểu nhiệt, thanh can nhiệt. Hoàng Cầm thanh thấp nhiệt, trừ hỏa độc ở tạng phế cùng phối hợp tăng tác dụng thanh phế, thanh nhiệt giải độc, tả hỏa. Cát cánh hóa đàm, tiêu mủ. Ngưu tất hoạt huyết tả hỏa, thêm Đương quy, Xuyên Khung bổ huyết, hoạt huyết, nhuận tràng thông tiện, tiêu tán kết.

Cả bài có công hiệu thanh nhiệt, giải độc, tiêu độc tán kết [10], [17]. - Phương thuốc gồm các nhóm tác dụng chính Thanh nhiệt giải độc: Kim ngân hoa, Liên kiều, Hoàng cầm, Cúc hoa. Giải biểu nhiệt: Cúc hoa, Kim ngân hoa, Liên kiều. Hoạt huyết: Đương quy, Xuyên Khung, Ngưu tất.

Tiêu mủ: Cát cánh.  Định tính, định lượng : Chưa có thông tin về định tính, định lượng phương thuốc này. Thông tin cơ bản của các vị thuốc. Kim ngân hoa.

Tên khoa học: Flos Lonicera [3]. Bộ phận dùng: Nụ hoa có lẫn một số hoa đã nở phơi hoặc sấy khô của cây Kim ngân – Lonicera japonica Thunb hoặc một số loài Lonicera khác như L.confusa DC, họ Kim ngân – Caprifoliaceae [2], [3], [19]. Thành phần hóa học: - Thành phần chính là flavonoid: rutin, luteolin-7-O-β-D-galactosid, lonicerin, hyperosid, luteolin-7-O-neohesperidosid, tricin-7-O-β-D-glucospyranosid, ochna-flavon L,. 3 chất đầu: rutin, luteolin-7-O-β-D-galactosid, lonicerin có hàm lượng cao nhất (với tỷ lệ khoảng 4,5:2:1) [2].

- Iridoid: loniceracetalid A, B, swerosid, centaurosid và secoxyloganin [2]. - Saponin: Saponin triterpene thuộc nhóm Hederagenin, lonicerosid A- macranthoidin B [2], [19]. 6 - Tinh dầu:: α-pinen, hex-1-en, hex-3-en-1-ol, geraniol, α-terpineol, …[19].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ