Chương 1 giới thiệu tổng quan về vấn đề nghiên cứu. Chương 2 tóm tắt cơ sở lý thuyết của đề tài. Chương 3 trình bày phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong đề tài này. Chương 4 báo cáo kết quả nghiên cứu.
Chương 5 kết luận về đề tài nghiên cứu và đưa ra các hàm ý chính sách có liên quan. Lý thuyết về cạnh tranh và rủi ro 2. Cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng Cạnh tranh được hiểu rộng rãi là sự ganh đua giữa hai cá nhân (hoặc nhóm hoặc quốc gia) và nó phát sinh bất cứ khi nào hai hoặc nhiều bên cùng phấn đấu cho một thứ mà tất cả đều không thể đạt được (Stigler, 1987). Trong kinh doanh, cạnh tranh được định nghĩa là một quá trình ganh đua giữa các công ty tìm cách giành được công việc kinh doanh của khách hàng theo thời gian (Whish & Bailey, 2015).
Xem xét từ khía cạnh kinh tế, khái niệm cạnh tranh thường được tiếp cận theo hai hướng (McNulty, 1968). Theo hướng thứ nhất, cạnh tranh được xem như một thuật ngữ mô tả được đặc trưng bởi một cấu trúc thị trường lý tưởng hóa. Các lý thuyết kinh tế truyền thống thường mô tả một thị trường cạnh tranh hoàn hảo với những đặc điểm như: có nhiều nhà sản xuất, mức độ tập trung trên thị trường thấp, không nhà sản xuất đơn lẻ nào có thể quyết định được giá của thị trường, sản phẩm là đồng nhất, không có bất kỳ rào cản gia nhập hoặc rút lui khỏi ngành, thông tin thông tin hoàn hảo giữa người sản xuất và người tiêu dùng. Theo cách thứ hai, cạnh tranh được xác định với một lực lượng, thông qua việc cân bằng giá cả với chi phí cận biên đảm bảo hiệu quả phân bổ trong hệ thống.
Thông qua cạnh tranh, các nguồn lực được hướng tới việc sử dụng chúng hiệu quả nhất và giá cả xuống mức thấp nhất để duy trì trong thời gian dài. Theo đó, cạnh tranh được xem như một sự đối đầu về giá cả. Như vậy, định nghĩa về cạnh tranh có thể xem xét từ nhiều góc nhìn khác nhau. Tuy nhiên, các góc nhìn đều cho thấy rằng việc cạnh tranh (giữa các công ty trong ngành) là để gia tăng thị phần, gia tăng lợi nhuận của công ty bằng cách hoạt động hiệu quả hơn.
Trong quá trình này, người tiêu dùng và xã hội cũng sẽ được hưởng những sản phẩm chất lượng hơn với giá thành rẻ hơn. Đồng thời, quá trình cạnh tranh cũng là 7 quá trình sàn lọc của thị trường để giữ lại những công ty khoẻ mạnh và loại bỏ những công ty yếu kém. Cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng cùng với ý nghĩa tương tự. Tuy nhiên, ngành ngân hàng có những đặc điểm riêng khiến nó có tầm quan trọng đặc biệt đối với nền kinh tế và những khác biệt so với các ngành khác.
Các ngân hàng đóng góp rất lớn vào tăng trưởng kinh tế bằng cách cung cấp các nguồn tài chính cho các ngành khác và theo đó tạo điều kiện cho sản xuất. Các ngân hàng là trung gian quan trọng giữa người đi vay và người cho vay thông qua việc tạo điều kiện thuận lợi cho việc chuyển các nguồn lực nhãn rỗi từ người tiết kiệm sang người đi vay. Các ngân hàng huy động, phân bổ và đầu tư phần lớn tiền tiết kiệm của xã hội, do đó, hiệu quả hoạt động của ngân hàng có tác động đáng kể đến việc phân bổ vốn, tăng trưởng doanh nghiệp, mở rộng ngành và phát triển kinh tế. Hơn nữa, ngân hàng còn có chức năng quan trọng trong việc giảm thiểu thông tin và chi phí giao dịch liên quan đến sự tương tác của người đi vay và người cho vay.
Do vậy, hệ thống ngân hàng hoạt động tốt được coi là nền tảng của nền kinh tế thị trường (Boyd, De Nicoló, & Smith, 2004; Carletti, Hartmann, & Spagnolo, 2007). Cạnh tranh gia tăng trong lĩnh vực ngân hàng sẽ dẫn đến lãi suất cho vay thấp hơn và nguồn cung cho vay rộng hơn, đổi mới sản phẩm nhiều hơn và cải thiện chất lượng dịch vụ (Claessens, 2009). Dựa trên hai tiếp cận về cạnh tranh, đo lường cạnh tranh trong ngành ngân hàng được chia thành tiếp cận cấu trúc ngành (industry structure) và tiếp cận đo lường sức mạnh thị trường không tính đến cấu trúc ngành (Berger, Demirgüç-Kunt, Levine, & Haubrich, 2004). Theo tiếp cận cấu trúc ngành, cạnh tranh ngân hàng có thể được đo lường từ đặc điểm cấu trúc của thị trường, chẳng hạn như thị phần của những ngân hàng lớn nhất.
Chỉ số tập trung Herfindahl-Hirschman (HHI) là một trong các thước đo đơn giản theo tiếp cận này. HHI được tính bằng cách lấy tổng bình phương thị phần của các ngân hàng trong ngành. Chỉ số này càng cao cho thấy phần lớn thị phần 8 chỉ tập trung vào một hoặc một số rất ít ngân hàng, hay sự cạnh tranh trong ngành là rất thấp và có nguy cơ xảy ra tình trạng độc quyền. Tiếp cận thứ hai đo lường cạnh tranh bằng cách xem xét mối quan hệ giữa các yếu tố đầu vào và giá đầu ra của ngân hàng.
Các thước đo theo tiếp cận này được phát triển và sử dụng rộng rãi trong các nghiên cứu có: (i) Thống kê H (H-statistic) của Panzar và Rosse (1982, 1987) đo lường hành vi cạnh tranh của các ngân hàng qua phản ứng của doanh thu đối với những thay đổi của giá đầu vào; (ii) Chỉ số Lerner (1934) xác định mức lợi nhuận tăng thêm (mark-up) của ngân hàng khi có sự tăng lên của chi phí biên; (iii) Chỉ tiêu Boone (2008) đo lường sức mạnh thị trường thông qua tính co giãn của lợi nhuận (hoặc thị phần) với chi phí biên. Sự đa dạng về thước đo cạnh tranh ngân hàng dẫn đến khả năng không nhất quán về kết quả nghiên cứu khi sử dụng các thước đo khác nhau. Nhiều nghiên cứu sử đụng đồng thời các thước đo khác nhau, chẳng hạn Bolt và Humphrey (2015) và Lapteacru (2014) đã minh chứng cho điều này. Mặt khác, không thước đo nào được cho rằng tốt hơn để phản ánh cạnh tranh ngân hàng (Beck, 2008).
Do vậy, nghiên cứu sử dụng thước đo HHI vì sự đơn giản và tính phổ biến trong các nghiên cứu. Quy mô ngân hàng Quy mô là một trong các đặc điểm quan trọng của doanh nghiệp nói chung và ngân hàng nói riêng. Có nhiều cách khác nhau để đo lường quy mô doanh nghiệp. Ngoài ba chỉ tiêu thường được sử dụng nhất là tổng tài sản, tổng doanh thu và giá trị thị trường của vốn chủ sở hữu thì các chỉ tiêu khác như số lượng nhân viên hay giá trị tài sản ròng cũng được đề cập trong các nghiên cứu liên quan đến quy mô doanh nghiệp (Dang, Li, & Yang, 2018).
Trong lĩnh vực ngân hàng, quy mô ngân hàng thường được đề cập như là một trong các yếu tố quyết định đến rủi ro ngân hàng (Laeven, Ratnovski, & Tong, 2014; Varotto & Zhao, 2018). Theo đó, khái niệm “quá lớn để sụp đổ” (hay “too-big-to- 9 fail”) đã trở thành tâm điểm của các nghiên cứu về rủi ro của ngành ngân hàng từ sau cuộc Khủng hoảng tài chính thế giới 2008-2009. Các ngân hàng lớn hơn được chứng minh là thường có mối liên kết mạnh mẽ hơn với toàn bộ hệ thống ngân hàng và vì vậy mà gây ra rủi ro hệ thống cao hơn (Huang, Zhou, & Zhu, 2012). Các ngân hàng lớn cũng rủi ro hơn và gây ra rủi ro hệ thống cao hơn do họ thường có tỷ lệ vốn thấp, mô hình tổ chức và kinh doanh rất phức tạp và có nhiều hoạt động phụ thuộc vào biến động của thị trường hơn các ngân hàng nhỏ (Laeven et al.
Chính vì vậy, các nghiên cứu về rủi ro ngân hàng thường đưa yếu tố quy mô ngân hàng vào các mô hình hồi quy như là một biến quan tâm hoặc biến kiểm soát. Rủi ro ngân hàng Rủi ro là khả năng một kết quả hoặc sự kiện không chắc chắn có thể gây ra hậu quả không mong muốn. Các ngân hàng phải chịu nhiều rủi ro trong quá trình hoạt động. Nhìn chung, rủi ro ngân hàng được chia thành ba loại: tài chính, hoạt động và môi trường (Van Greuning & Bratanovic, 2020).
Rủi ro tài chính lần lượt bao gồm hai loại rủi ro: rủi ro truyền thống và rủi ro ngân quỹ. Rủi ro ngân hàng truyền thống - bao gồm rủi ro bảng cân đối kế toán và cấu trúc báo cáo thu nhập, rủi ro tín dụng và rủi ro vỡ nợ - có thể dẫn đến thua lỗ cho ngân hàng nếu chúng không được quản lý thích hợp. Rủi ro ngân quỹ, dựa trên chênh lệch giá tài chính, có thể dẫn đến lợi nhuận nếu chênh lệch giá là chính xác hoặc thua lỗ nếu nó không chính xác. Các loại rủi ro ngân quỹ chính là rủi ro thanh khoản, lãi suất, tiền tệ và thị trường.
Rủi ro hoạt động liên quan đến các quy trình kinh doanh tổng thể của ngân hàng và tác động tiềm ẩn của việc tuân thủ các chính sách và quy trình của ngân hàng, hệ thống và công nghệ nội bộ, bảo mật thông tin, các biện pháp chống lại sự quản lý yếu kém và gian lận cũng như các mối lo ngại về tính liên tục của hoạt động kinh doanh. Một khía cạnh khác của rủi ro hoạt động bao gồm lập kế hoạch chiến lược, quản trị 10 và cơ cấu tổ chức của ngân hàng, quản lý sự nghiệp của nhân viên và nguồn lực nội bộ, phát triển sản phẩm và kiến thức cũng như phương pháp tiếp cận khách hàng. Rủi ro môi trường liên quan đến môi trường kinh doanh của ngân hàng, bao gồm các mối quan tâm về kinh tế vĩ mô và chính sách, các yếu tố pháp lý và quy định, cũng như cơ sở hạ tầng khu vực tài chính và hệ thống thanh toán của các khu vực pháp lý mà ngân hàng hoạt động. Rủi ro môi trường bao gồm tất cả các loại rủi ro ngoại sinh, nếu chúng được thành hiện thực, có thể gây nguy hiểm cho hoạt động của ngân hàng hoặc làm suy yếu khả năng tiếp tục hoạt động kinh doanh của ngân hàng.
Việc phân loại các rủi ro ngân hàng có ý nghĩa cho việc quản lý rủi ro. Ở khía cạnh đánh giá tổng thể rủi ro ngân hàng, rủi ro ngân hàng được xem xét ở hậu quả không mong muốn nhất là sự đổ vỡ của ngân hàng. Do vậy, một cách tổng thể để đo lường rủi ro ngân hàng là đo lường rủi ro xảy ra đỗ vỡ của ngân hàng. Có nhiều tiếp cận khác nhau để đo lường rủi ro ngân hàng theo tiếp cận này.
Phương pháp truyền thống để đo lường rủi ro ngân hàng là VaR (Value at Risk) và ES (expected shortfall).